Parasite: Ký Sinh Trùng hay Đại Hồng Thuỷ?

Trong lúc xem Parasite, những lời này của Hamvas Béla không tránh khỏi vang lên và ngân dài trong óc não:

“Trong con người vô thức nổi lên, trong xã hội, đám đông xuất hiện. Đây là một dạng di dân mới, là sự đột nhập thẳng thừng của sự tàn bạo. Tình thế không chỉ thay đổi từ bên ngoài; mà trạng thái tâm lý con người cũng bị đảo lộn cùng sự xua đuổi những cá nhân ưu tú và có vị thế cao hơn. Những gì đã từng ở trên, rơi xuống dưới, những gì từng ở dưới  giờ nổi lên trên. Vô thức lên trên và ý thức xuống dưới. Tri thức không ở trên, mà là bản năng, không phải ánh sáng, mà là sự tăm tối, không phải paradiso, mà là inferno, không phải thứ phát triển mà là thứ thấp kém, không phải trật tự và sự tử tế, mà là sự hỗn loạn và dục vọng. Không phải thứ tư duy có ý thức, mà là một  thứ cặn bã (reziduum) và thần tượng( mitosz). Bởi vậy trong sự chọn lựa, trong cách đánh giá các giá trị, trong thứ bậc và trong nhu cầu xuất hiện một trật tự đảo lộn.

Một tai họa giống như thế này chỉ xảy ra với con người khi nạn hồng thủy tràn ngập quả đất, và loài người chìm xuống biển. Nhưng lúc đó sự chết chìm này chỉ là bên ngoài, như nạn di dân cũng chỉ là bên ngoài: ngày nay con người chết chìm trong sự vô thức riêng của bản thân mình và của đám đông riêng của xã hội mình. Biển chính là sự vô thức, và sự vô thức chính là biển. Nạn hồng thủy chính là sự chết chìm trong cái vô thức. Ngày hôm nay chúng ta đang sống trong nạn hồng thủy từ bên trong.”

Đại hồng thủy đang nhấn chìm mọi thứ. Nhưng sẽ là vô ích, nếu mong đợi người Việt Nam có thể hiểu và miêu tả tình thế bi đát của chính họ, giống như người Hàn, hay các dân tộc có khả năng tự vấn khác, đang làm. Mặt tốt của vấn đề? Họ có thể sống nhẹ nhàng vui vẻ cho đến tận hơi thở cuối cùng.

Đừng!

Đừng đút tay vào ổ cắm!
Đừng uống nước bể bơi!
Đừng liếm con mèo!

Nếu bạn còn nhớ, thì bạn cũng lớn lên cùng với những câu lệnh tương tự như thế. Và nếu trí nhớ của bạn tốt hơn nữa, bạn sẽ nhớ rằng từ thuở ban sơ, đâu đó trên Thiên Đàng, ông cố tổ của chúng ta cũng đã được dặn rằng đừng ăn trái cấm. Đừng! Thế rồi chúng ta vẫn có mặt ở đây. Bảy tỉ rưỡi đứa. Đứa nào cũng lớn lên với những câu lệnh “đừng”.

Nhưng đừng là đừng thế nào? Chơi nhau à? Bày ra trước mắt rồi bảo đừng ăn, đừng chơi, đừng làm, đừng ghét, đừng yêu, đừng xây, đừng phá, thì quá bằng bảo đừng sống nữa? Thế thì đừng đẻ tôi ra? Đẻ tôi ra, tôi sống nhăn răng ra đây rồi thì cứ nhất định bảo đừng, tóm lại các người muốn gì?

“Chúng ta muốn ngươi được là chính ngươi.” – Họ nói.

“Thì tôi đang là chính tôi đây.” – Tôi nói.

“Nhưng đừng theo cách ấy.” – Họ nói.

“Ơ cái ĐKM*%&Ư$^*Ư&Ư&Ử@#@$.” – Tôi nói.

“Và đừng chửi bậy.” – Họ nói.

Làm sao để bớt buồn vào buổi tối

Đùa đấy. Làm gì được mà làm. Làm gì thì cũng chỉ để tránh, để che đi, để không phải cảm thấy. Nhưng cơn buồn đâu có đi đâu. Nó cứ lặng lẽ ở đó, và đợi.

Đợi mình nhận biết là nó tồn tại. Đợi mình cảm thấy nó, trò chuyện với nó. Đợi mình không vội, không sợ, không trốn tránh. Đợi mình thôi không còn coi nó là hiểm hoạ hay kẻ thù.

Đợi mình kiên nhẫn ở lại, một lúc thôi, một vài phút, một vài ngày, một vài kiếp, tất cả thời gian cần thiết, trước khi nó tan đi, theo cách giọt sương tan vào trong tia nắng ban mai.

Làm sao để bớt cô đơn vào buổi sáng

Mỗi sáng bạn thức dậy, ngầy ngật ngái ngủ, mệt mỏi nặng nề, bạn lê bước vào nhà vệ sinh, cảm thấy cô độc chán chường, phân ly tách biệt với thế giới.

Bạn đâu biết rằng, khoảnh khắc bạn đặt bờ mông của mình xuống bàn cầu, cũng là lúc bạn đang kết nối với 7 tỉ rưỡi bờ mông khác, không bờ nào giống hệt một bờ nào, đang làm cùng một công việc, qua một mạng lưới mênh mông của những bồn cầu và bể phốt, những đường ống và hầm chứa, những cầu tõm và bờ bãi hồn nhiên.

Cái mạng lưới ẩn mật ấy, lớn rộng hơn bất kỳ mạng xã hội nào, cần thiết hơn bất kể công nghệ tiên tiến nào khác, đang ngày đêm cần mẫn kiên trì kết nối chúng ta. Hãy nhớ lấy điều kỳ diệu ấy, mỗi khi bạn thấy cô đơn, nhất là những lúc đi cầu.

Đọc Saint-Exupéry-Bùi-Giáng: những dặm dài dàn rộng giữa muôn sao

Antoine de Saint-Exupéry – người phi công mộng mơ tha thiết ấy đã không còn xa lạ gì với độc giả đại chúng Việt Nam. Nhưng Bùi Giáng – người thy sĩ phiêu bồng thâm viễn nọ thì hẳn vẫn còn là một cái tên bí ẩn. Bí ẩn không phải vì ít sách – sách Bùi Giáng vẫn được in nhiều và tái bản luôn luôn, các đầu sách trước 75 cũng đang được ảnh ấn chỉn chu, một số đầu còn có bản điện tử đầy đủ trên mạng (1). Bí ẩn chính là vì thứ ngôn ngữ mà ông dùng để viết và dịch vốn là loại ngôn ngữ của chuồn chuồn châu chấu, của thơ mộng phiêu bồng, của u huyền ẩn mật. Bởi thứ ngôn ngữ này mà nhiều người hẳn sẽ “dội” ra, cho rằng dài dòng, khó hiểu, lan man, bê bối. Nhưng những ai đã kiên nhẫn bước qua được màn sương kỳ ảo ấy, hiểu và yêu vẻ đẹp của tiếng Việt theo thể lệ Bùi Giáng rồi, chắc sẽ không thể đọc Saint-Exupéry qua bản dịch của ai khác nữa.

“Tôi tưởng chừng chàng đã nhân một đoàn chim di thê mà thoát vòng thao túng…”

Trước tiên và hơn ai hết, Bùi Giáng ý thức và thực hành dịch ở cảnh giới tối thượng của nó. Không chỉ thông thạo tiếng Hán, Anh, Pháp, Đức và am tường văn chương, triết học, tôn giáo kim cổ Đông Tây, ông còn là một người sáng tạo, một Thi sĩ Thiêng liêng (Poeta Sacer – chữ của Hamvas Béla), một kẻ say mê tiếng Việt đến “kiệt tận miệt bạc bình sinh”. Hãy nghe kẻ đó nói về dịch:

“Từ trong tinh thể của nó, dịch là tái tạo. Sự ấy dường như quá hiển nhiên. Ông Nguyễn Du, ông Nguyễn Khắc Hiếu đều tái tạo triệt để trong các bản dịch chuyện Tàu của các ông. Nhưng nói gì xa xôi. Thử nói gần gũi hơn. Nếu bây giờ ta đem Truyện Kiều dịch trở lại bằng văn xuôi Việt Ngữ, hoặc bằng thơ thất ngôn, ngũ ngôn, thì ấy cũng là tái tạo. Một ca nhi đem một bài ca ca lên, cũng là tái tạo bài ca. Xét cho cùng, mọi hành động và vô vi, cũng là tái tạo. Tái tạo bằng hơi thở riêng biệt một lần.” (2)

Chỉ một tâm hồn thể nhập những bí ẩn sâu xa nhất của đời sống mới hiểu dịch ở mức độ này:

“Từ trong tinh thể nó, Dịch là làm điều cưỡng bức. Dịch văn xuôi là điều cưỡng bức. Dịch thơ lại càng là cưỡng bức triệt để hơn nữa. Đừng nói chi tới sự vụ dịch thơ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Chỉ thử hỏi: Có thể nào đem thơ Việt, dịch ra trở lại làm thơ Việt được không? Có thể nào đem thơ lục bát dịch ra làm thơ thất ngôn, hoặc ngũ ngôn, hoặc song thất lục bát, hay là thơ tám chữ? Nói triệt để hơn nữa: Có thể nào đem thơ lục bát dịch trở lại làm thơ lục bát? Chính ông Nguyễn Du, ông có thể nào tự mình đem thơ lục bát của mình dịch trở lại làm thơ lục bát? Không. Lời thơ kia chỉ hiện ra một lần trong phong thái riêng biệt của anh hoa phát tiết một lần. Buộc nó phải hiện ra trở lại trong phong thái khác, thì anh hoa tài tử có thể cho phát tiết một lần nữa, nhưng lần sau không còn là lần trước. Màu xanh của biển chiều thu năm nay không phải màu xanh của biển chiều thu năm ngoái. Màu xanh biển phút trước, không phải màu xanh biển phút sau. Luôn luôn trong vạn vật cũng như trong sinh hoạt tâm linh, có một trận tái tạo không ngừng. Phải chấp nhận sự đó như là điều hiển nhiên, thì mọi cuộc dịch dy mới có thể còn chút gì chính đáng trong cơn liên tồn cưỡng bức. Trái lại, nếu quan niệm hẹp hòi, nếu cho rằng dịch phải thật “sát”, không được cưỡng bức dịch dy, thì mặc nhiên người ta đã cưỡng bức một cách không chính đáng. Vì cuộc cưỡng bức nọ không đưa tới tái tạo tinh hoa, mà dẫn tới nô lệ ngục tù, nghĩa là sát phạt tinh hoa.” (3)

Tâm hồn đó, khi bắt tay vào dịch Saint-Exupéry, đã thiết tha thổ lộ:

“Kẻ trước, người sau, xin “dịch” đi, dịch lại những lời… Dịch, biến làm chuyển dịch cho tương giao. Bất cứ nhìn ai cắm cúi dịch Saint-Exupéry, ta hãy xem như đó là chuyện chung của những con người rủ nhau ghé vào bờ mộng. “Ở giữa lòng một vài đêm thâu lục nhạt, tôi đã nhìn những tia lửa băng trời thành một đường rẽ vút như một làn gió dài dàn rộng giữa muôn sao”.(4)

Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Saint-Exupéry-Bùi-Giáng hẳn là Hoàng Tử Bé. Nghe đâu cuốn này trước nay đã có đến 8 bản dịch Việt. Sẽ là thừa thãi, nhưng hãy cứ thử cưỡng bức so sánh vài bản dịch, chỉ một đoạn thôi, ta sẽ thấy ngay nơi đâu lấp lánh tinh thể tinh hoa:

“Các nàng đẹp, nhưng các nàng trống rỗng ở bên trong, chàng còn nói thêm như thế. Người ta không thể vì các nàng mà chết đi trong ngậm ngùi tưởng niệm. Hẳn nhiên, đóa hồng của ta, một bộ hành đi qua ắt tưởng là nó giống các nàng. Nhưng riêng nó, nó lại quan trọng hơn hết thảy các nàng, bởi chính nó được ta tự tay tưới nước. Bởi chính nó đã được ta giữ lại dưới cái bầu tròn. Bởi vì chính nó đã được ta che giữ sau một tấm bình phong. Bởi vì chính nó đã được ta bắt sâu, tỉa bọ (trừ một vài con để lại nhằm những cánh bướm mai sau). Bởi vì chính nó đã được ta lắng tai nghe than van, hoặc nghe tán hươu tán vượn diễm kiều tài tử, hoặc đôi lúc lại được nghe cả cái lặng im câm nín như chiều Xuân vắng vẻ thanh hà. Bởi vì đó là đóa hồng của hồn ta tưởng nhớ.”

– Bản dịch Bùi Giáng (1973)

“Các cô đẹp, nhưng các cô trống rỗng, em nói với họ. Người ta không thể chết vì các cô được. Phải, đoá hồng của tôi, một người qua đường tầm thường tưởng là nàng giống các cô. Nhưng đối với tôi thì nàng quan trọng hơn tất cả các cô, bởi vì chính là nàng mà tay tôi đã tưới. Bởi vì chính là nàng mà tôi đã đặt chính dưới bầu kính. Bởi vì chính là nàng mà tôi đã che bằng tấm bình phong. Bởi vì là nàng mà tôi đã bắt những con sâu (trừ hai ba con dành để thành bướm). Bởi vì chính là nàng mà tôi đã ngồi nghe than thở, hay tán hươu tán vượn, hay đôi khi cả lặng im nữa. Bởi vì đó là đoá hồng của tôi.”

– Bản dịch Vĩnh Lạc (1994)

“Các cô đẹp đấy, nhưng các cô lại trống rỗng, cậu lại nói tiếp với chúng. Người ta đâu thể chết vì các cô được. Còn bông hồng của tôi thì dĩ nhiên một lữ khách bình thường hẳn sẽ tưởng là nàng ấy giống các cô. Nhưng chỉ riêng mình nàng thôi, nàng đã quan trọng hơn tất cả các cô, bởi lẽ chính nàng đã được tôi tưới nước cho. Bởi lẽ chính nàng đã được tôi chắn bình phong cho. Bởi lẽ chính nàng đã được tôi bắt sâu cho (trừ hai hoặc ba con để chúng hóa bướm). Bởi lẽ chính từ nàng mà tôi đã nghe phàn nàn, hoặc khoe khoang, hoặc thậm chí đôi khi chẳng nói chẳng rằng. Bởi lẽ đấy là bông hồng của tôi.”  

– Bản dịch Trác Phong (2013)

Cái sự vụ “tái tạo trong hơi thở riêng biệt một lần” mới rõ rệt làm sao. Chỉ có vẻ như cứ sau 20 năm thì hơi thở lại khó khăn nhát gừng hơn một chút, khô cằn đứt đoạn hơn một chút, phổ thông rút gọn hơn một chút, và ít thơ mộng đi nhiều chút. Mỗi lần một bản dịch mới ra đời, là mỗi lần ta quay về ấp ôm Bùi Giáng, nâng niu Bùi Giáng, sụp lạy Bùi Giáng.

Vẫn là lời ông nói về dịch, trước khi bước vào “Cõi Người Ta”:

“Dịch văn – sao cứ gọi là dịch? – dịch văn biến thành câu chuyện: vừa bay lên, vừa lặn xuống, vừa nối liền hai bờ ngôn ngữ quá xa nhau. Thật vừa vui, vừa mệt mỏi.

Ngôn ngữ đa âm đòi hỏi lối phiên dịch như thế nào qua ngôn ngữ đơn âm? Đó là điều đáng xui chúng ta tư lự đăm chiêu.

Vì lẽ: tiết điệu đa âm có một phong thái dồi dào đương yêu cầu được tái hiện. Đây là trường hợp: ở bên kia từ ngữ, tiết nhịp của ngôn ngữ đương nói rất nhiều.

May sao, Việt ngữ đơn âm lại giàu sang âm vận. Nhưng không phải: ở mọi cơ hội, đều giản dị giàu sang. Do đó cần thêm một chút chuyển giao thỏa đáng, thì lời dịch sẽ tái lập được “cung bậc” gieo vàng của nguyên ngôn. Mà nguyên ngôn Saint-Exupéry lại chứa chan những thơ mộng khi u trầm, ngậm ngùi, lúc lộng lẫy. Cái điệu nói la cà diệu vợi, vừa chát chát vừa hắt hiu, lúc nhắc tình bạn hữu, lúc gợi tiếng U già, lúc chuyện trò với gái trên nhịp cầu hai cõi hoang vu.” (5)

Theo cái thể điệu ấy, cuộc đời phi công đã hiện bày huyền nhiệm dị thường:

“Đứng tại đây, mà hình hài thể phách đã ký thác vào những mù sương vây phủ, những mây kéo tối sầm; đứng ở đây mà hồn phi công nghìn dặm đã nhấm thấy trước rồi, cái vị chát những đêm bay.”

“Xăng đã cạn, nhưng mỗi lúc thấy chiếc mồi vàng, chúng tôi lại đuổi theo mà đớp; mỗi lần thấy đích thị là trạm nghỉ chân, là con đường sống, rồi lại đành đích thị bỏ rơi và đuổi theo một vì sao khác. Từ đó chúng tôi cảm thấy lạc lõng chìm ngập trong khoảng rộng liên hành tinh, chơi vơi giữa hàng trăm tinh cầu xa hút, biền biệt đuổi theo riêng một tinh cầu thiết thực, tinh cầu của riêng đời sống chúng tôi, chứa đựng những phong cảnh đầm ấm quen thân, những căn nhà bậu bạn, những luyến ái dịu dàng.”

“Chúng tôi đã hưởng được chính cái mùi hương ôn nhiệt thiêng liêng nhè nhẹ phảng phất giữa lòng một buổi lễ phong phú vui tươi. Ấy thế, nhưng thật ra chúng tôi nghèo vô hạn. Nào có gì đâu. Gió, cát và sao trên trời. Đúng là thể điệu khắc khổ của kẻ tu hành. Nhưng trên thảm cát ánh sáng lờ mờ kia, sáu bảy người với những bàn tay trắng, đã chia nhau không biết bao nhiêu của quý vô hình.” (6)

Và đây nữa, những giọt sương tinh thể đi thẳng vào giữa cõi tồn lưu:

“Tất cả chúng ta là kẻ man di, mà những đồ chơi mới đương làm ngất ngây choáng mắt. Những cuộc tung cánh phi cơ không có ý nghĩa nào khác. Cái nọ bay cao hơn cái kia một chút, cái kia chạy chóng hơn cái nớ một phần. Vậy chúng ta quên mất cái do lai xui chúng ta lao đầu mà xô cho máy chạy. Tạm thời là thế, cái cuộc chạy tưng bừng, nó che lấp cái đối tượng là cứu cánh, hoặc do lai. Mãi mãi than ôi vẫn rồi ra rứa.”

“Tuyệt hảo của phát minh cũng lăm le về chỗ quên mình là minh phát. Và, cũng như trong khí cụ, mọi cái gì máy móc hiện thể bên ngoài đã dần dà xóa bóng, và có đến với ta cũng tự nhiên như ngẫu sinh là một hòn sỏi biển trơn tròn, mà ngẫu sinh lại sinh từ sóng rộng, thì cũng vậy, cái tuyệt vời đáng nên tán tụng, là cái máy ta dùng, chính trong lần được dịch sử, đã dần dà tự biến dạng để người quên.

Xưa kia chúng ta tiếp xúc với phi cơ như chạm vào hồn phức tạp. Nhưng ngày nay quen nết, ta quên mất mình đang gửi nhịp với một động cơ sầu tỏa đương quay. Thế là tới đây, nó đã đáp ứng với chức vụ của mình, là quay vù, quay tít, như tim đập trong lồng, và cũng vậy, nào ai biết bên phổi mình đang có một quả tim quay. Ai lưu tâm lưu ý tới. Khí cụ ta dùng thân thuộc, đã mất hút lưu tâm. Ở bên kia khí cụ, và xuyên qua khí cụ, là ấy cõi sơ khai thiên nhiên sơ thủy ta tìm về bắt gặp lại, đó trùng lai – cõi thiên nhiên của chàng làm vườn, của chú hàng hải, của bác thi nhân.

Ấy rằng với nước, ấy rằng với hơi, ấy rằng với không khí, là ấy của người phi công cất cánh tiếp xúc đề huề. Lúc động cơ tung nhịp, lúc con tàu đã rạch sóng biển khơi, triều nước dâng, vỗ vào mạn tàu rột rột như rập rình chiêng dậy, quân nhạc ngân theo, thì con người có thể dõi theo việc làm kia bằng cách đo cật gan mình động đậy. Nó chấn động thế nào, thì ta cũng cảm rõ được từng phút, từng giây, chiếc thủy phi cơ càng tăng tốc độ, càng thu nhập thêm uy quyền trên làn sóng phân vân. Người phi công cảm thấy, trong cái khối mười lăm tấn kim khí kia, đang soạn sửa một hương nồng thuần thục, sắp dậy trào đưa toàn khối bay lên. Người phi công đưa tay nắm chặt thêm các tay lái, và dần dà thu nhập hết quyền hành nọ, như đón về một tặng vật ai trao. Nắm được tặng vật rồi, thì mọi bộ phận tay lái tự biến thành những sứ giả của quyền uy. Lúc quyền uy đã thục, người phi công chỉ cần làm một cử động nhẹ như chơi, nhẹ hơn vịn tay vào cành hái quả, là quá đủ để tách rời khỏi sóng nước cái thân con tàu yểu điệu, và đưa nó lên bầu trời dàn mộng giữa thương khung.”

“Và đây, thành phố ở tận tít trời Nam tận cùng thế giới, nhân vì ngẫu nhĩ gặp được chút linh khí của một chút bùn mềm, đã được thành lập phong nhiêu giữa những phún thạch nguyên sơ và dương băng biển Nam heo hút. Sát ngay cạnh những chất đá đen sì, phồn hoa kia sao mà xui lòng xao xuyến: huyền diệu của con người, dị thường của tao ngộ. Ta không biết vì đâu, ta không rõ bởi cách nào người du khách nọ đến viếng những khu vườn này, những khu vườn chỉ cho phép cư trú một thời gian quá ngắn, một chu kỳ địa chất, bằng cách nào viễn khách về đây một ngày giữa thiên thu nghe hồng ân chan rưới.

Tôi hạ cánh giữa tịch mịch chiều vàng. Punta Arenas! Hãy nhìn ta tựa lưng vào bờ giếng mà ngó gái giữa thanh xuân. Cách nhau hai bước, tôi càng thấy rõ cái lẽ huyền nhiệm kiếp người… Trong một thế giới mà sự sống giao tiếp dễ dàng với sự sống, mà những cành hoa giữa lòng gió hồn nhiên hôn phối với những cành hoa, một thế giới mà con thiên nga nào cũng quen biết mọi con thiên nga, trong thế giới đó, chỉ riêng con người là xây dựng căn lầu mộng cô đơn.” (7)

Ba chữ “Cõi Người Ta”, di sản thiêng liêng của Nguyễn Du, cũng chỉ riêng Bùi Giáng mới có thể lấy ra và đặt xuống, chỉ riêng Bùi Giáng thành tựu phiêu bồng. Và cũng chỉ riêng Bùi Giáng là người đủ tư cách đặt bút dịch “Citadelle”, tác phẩm chưa (và sẽ không bao giờ) hoàn thành của Exupéry, nơi chung đúc mọi tư tưởng bình sinh, nơi tập hợp mọi tâm linh triết lý, mọi giọt sương tỳ hải, mọi suối mát thiên thu chảy ra từ tâm hồn kỳ vĩ nọ.

“Cũng vậy là cái cây, mày chẳng hiểu biết tý gì về con người ta nếu mày đem trải nó tùm lum trên kỳ hạn liên tồn mà rờ rẫm mò mẫm mon men vén tóc bắt tay phân phối nó ra làm chi ly chia biệt. Cái cây chẳng phải thoạt tiên là hạt giống, rồi nảy mầm, rồi trổ mống, rồi mọc cành, rồi héo khô, rồi gỗ chết. Cái cây chính là cây cái cai cấy, cái uy lực tiềm tàng chậm rãi lớn rộng mà hôn phối trời xanh. Nó mở phơi lá cành ra mà đón gió thanh thiên thiền quyên mọc cỏ. Cái cây là cái gậy phiêu bồng không rục rịch để cho gió lá về đú đởn cuộc đong đưa. Cái cây là cái lá. Cái chim cái chóc, cái ngậm hồn ngồn lậm ngậm chiêm bao. Mày cũng vậy, hỡi thằng lai rai bé con non dại nà hào. Hóa Công con tạo là cái đã sản sanh ra mày, dưỡng dục cho mày lớn lên, đem càn khôn cọ mài con vũ trụ mà chan hòa đắp điếm cho mày liên tồn tiếp nối những dục vọng, những tiếc thương, những ngẫu nhiên kỳ ngộ, những lỡ cuộc thanh xuân, những đèo truông giải cấu, những niềm vui thị hiện, những vui sướng rã tan, những phẫn nộ chiêm bao, những nguyên lượng mộng mị, những huyền vi tiên nữ lồ lộ một lần rồi mất hút suốt thiên thâu, những thảy thảy nhớ nhu trắng phơ đầu bạc, những ra đi điêu đứng, những qui hồi không thể tìm lại con hồng nhạn ban sơ. Thượng Đế xô mày ra tồn sinh ngược đãi, Như Lai lôi mày về thái hư tịch mịch rỗng tuênh. Tuy nhiên mày là cái chi? Mày chẳng phải thằng học sinh kia, chẳng phải gã bồng con vợ nọ, chẳng phải thằng bé ấy, chẳng phải lão già nua nào. Mày là cái kẻ phải tự thân thành tựu thể thân mình. Bằng những cơn vui cuộc khổ, bằng riêng một lần yêu dấu em mọi ở đầu non, bằng duy nhất ngẫu nhiên những phen chết lịm linh hồn lúc ngó nhìn phía sau một tà xiêm lấp ló. Và nếu mày biết tự khám phá ra mình là ngành cây đong đưa, gắn liền vào thân cội, thì mày sẽ từng cơn nhấm gậm cái hương vị của thiên thu trong từng phen rún rẩy. Và mọi vật quanh mày sẽ trở thành mọi mọi thiên thu. Thiên thu là cái mạch suối rì rào, thiên thu là ánh sáng những con mắt lúc người yêu nhìn mày mỉm cười, thiên thu là khí mát đêm hôm. Và thời gian không còn là một cái đồng hồ sa lậu làm mòn hao hột hoàng sa sát na tinh thể, mà trở thành người thợ gặt hái đang góp bó chùm cụm liên tồn.” (8)

Như thế đó, một người Tây một người Đông, một phi công một thy sĩ, họ gặp nhau giữa thời đại ngổn ngang, tiếp ứng nhau giữa cằn khô sa mạc, để rồi sa mạc phát tiết, rớt hột mưa nguồn, nhú lên một nhánh lá hoa cồn, ngân lên một bản trường ca sa mạc (9), một lần cho mãi mãi về sau.


(1) Các nguồn sách Bùi Giáng:
– Tủ sách Bùi Giáng của Sách Khai Tâm (sách in sau 1975)
– Tủ sách Bùi Giáng của Thư Viện Huệ Quang (sách ảnh ấn theo nguyên bản trước 1975)
– Tủ sách Bùi Giáng của Talawas (các bản điện tử).

(2)(3): Trích Thi ca tư tưởng, Ca Dao, 1969

(4)(5)(6)(7): Trích Tựa và các chương I, III, IV, Cõi Người Ta, 1966, bản in lại của NXB Văn Nghệ, 2005

(8): Trích Cung Thành Sisyphe, in chung trong tập Biển Đông Xe Cát – Albert Camus, An Tiêm, 1969

(9): Tên các tập thơ/sách của Bùi Giáng: Mưa Nguồn (1962), Ngàn Thu Rớt Hột (1963), Sa Mạc Trường Ca (1963), Lá Hoa Cồn (1963), Sa Mạc Phát Tiết (1969)

Endgame: nhìn từ Việt Nam

Bằng một phong thái đĩnh đạc, trên nền nhạc bi tráng hào hùng, Thanos từ từ đưa Găng Tay Vĩnh Cửu lên, trước khi búng tay kết thúc, thong thả đưa ra một kết luận đầy tính triết học-tâm linh:

Ta là… điều không thể tránh.

Nhưng có búng tay bao nhiêu thì vẫn chưa kết thúc, bởi toàn bộ đá Vĩnh Cửu đã chuyển sang một bàn tay khác. Đến lượt Tony Stark từ từ đưa tay mình lên, thủng thẳng buông một vế đối vô tiền khoáng hậu:

Ta là… Iron Man.

Đây là câu thoại hàm hỗn thênh thang nhứt trong lịch sử các câu thoại của Holywood. Bởi nó tóm gọn toàn bộ tinh thần, toàn bộ tâm thế, toàn bộ thái độ sống không phải chỉ của một Iron Man, không chỉ của đế chế điện ảnh tạo ra Vũ trụ Marvel, mà là thái độ chung của toàn bộ loài người, loài động vật mà người Mỹ tự trao cho mình cái quyền đại diện. Đó là thái độ tự phụ ngông cuồng của con người trước thiên nhiên, và ý chí gan bướng lỳ lợm của hắn trước vũ trụ. Hắn không màng gì mạng sống của chính mình đã đành, hắn cũng chẳng màng chi số phận hẩm hiu của hành tinh hay nhân loại (như hắn vẫn rất mực khăng khăng thuyết phục mình và người khác). Cái hắn quan tâm? Là chính hắn. Căn tính hắn, bản ngã hắn, sự thật của hắn: niềm tin của hắn vào cái mà hắn cho là đúng, là hay, là tốt đẹp. Dù có tiêu hủy đến hạt bụi cuối cùng trong vũ trụ, thì hắn vẫn phải khẳng định cho bằng được, tao đây, tao nè, tao đã đến đây và tao đã làm điều ấy đó, rồi sao?

Còn người Việt Nam? Người Việt Nam lũ lượt kéo nhau ra rạp, lũ lượt góp tiền cho Marvel tiếp tục mần thêm phim, và, búng nhẹ tay trước khi uống cốc trà sữa thứ ba trong ngày, người Việt Nam hềnh hệch mà rằng:

Ta là… cái đéo gì cũng được. Hihi.

Nhìn thẳng vào chính mình: đọc lại Thích Minh Châu mùa Phật Đản

Rước Phật qua cầu Tràng Tiền. Ảnh VNexpess.

Phật Đản là mùa lễ hội của những người theo đạo Phật. Đó là mùa mà toàn thể tăng ni Phật tử cùng hướng về, và tri tạ, một sự kiện diễn ra hơn hai mươi lăm thế kỷ trước: ngày đức Phật đản sanh (và đối với một số nhánh Phật giáo, cũng là ngày Ngài thành đạo và nhập diệt). Ở những thành phố có truyền thống tâm linh lâu đời như Huế, lễ hội lại càng huy hoàng và trọng thể. Hoa sen được đặt trên sông, được rước trên xe, được ôm trên ngực. Dưới cờ và hoa, trong tiếng chiêng trống và kinh cầu, giữa cái nóng 39 độ mùa hè, hàng ngàn người con thành tâm rước Phật.

Chẳng phải là con Ngài, cũng chưa định làm tu sĩ, chỉ với một tấm lòng yêu kính Đức Cồ Đàm, với đôi mắt tò mò đứng bên lề đường nhìn lễ hội Vesak, tôi bất giác tự hỏi: “Đức Phật à, có thực là họ đang rước Ngài không vậy?”

Và tôi nhớ, hơn bao giờ hết, những lời của Thượng Tọa Thích Minh Châu, đúng 50 năm về trước. Đó là năm 1970, chiến tranh đang lan rộng và leo thang, đau thương tang tóc đang xảy ra trên khắp cõi Việt Nam. Tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, ngài Viện trưởng đã dùng những lời dưới đây để chào mừng ngày Phật Đản:

“Chiến tranh càng ngày càng trở nên ác liệt, tất cả những đau khổ lớn nhất của nhân loại đã xảy ra tại quê hương  của chúng ta, và hôm nay, giữa lòng đau đớn khôn cùng của đất nước, đấng Thế Tôn lại ra đời, như một vì sao Mai vụt hiện trên vùng tối đen của mặt đất thê lương này.

Đấng Thế Tôn không phải chỉ ra đời cách đây mấy ngàn năm vào một thời gian ấn định, vào một địa điểm xác định nào đó. Không, Đấng Thế Tôn ra đời mỗi ngày và mỗi giây phút trong đời sống chúng ta: chúng ta là những kẻ đồng thời với Ngài, ra đời với Ngài, đau đớn với Ngài, sống với Ngài, lên đường với Ngài và cùng đi về với Ngài trên con đường giải thoátcon đường của vì sao Mai tuyệt đối, hình ảnh bất diệt của Chân Như: đó cũng là dấu hiệu của Pháp thân bất sinh bất diệt giữa sự phân thân bi thảm trầm trọng của quê hương chúng ta.

Giữa cơn biến động tàn khốc của đất nước hiện nay, mỗi người đều cảm thấy rằng mình phải lên tiếng, vì không lên tiếng là có tội lớn với hồn thiêng của quê cha đất tổ; người nào cũng thấy rằng mình phải nói đến Hoà Bình và Dân Tộc, nói đến Tôn Giáo và Dân Tộc, nói đến Trách Nhiệm và Dân Tộc.

Còn những danh từ cao đẹp thời thượng của năm 2019 là gì? Cách mạng 4.0? Đổi mới Sáng tạo? Biến đổi Khí hậu? Nữ quyền? Thuận Tự Nhiên? Hay những gì gì nữa?

Tất cả sự lên tiếng đều đáng tôn kính, tất cả những danh từ cao đẹp đều đáng tôn quí, nhưng thật sự thì đằng sau sự lên tiếng ấy, đằng sau những danh từ cao đẹp ấy chúng ta sẽ thấy được những gì?

Tất cả lời nói đều trở nên vô nghĩa. Bất cứ người nào đi giữa đường cũng có thể lên tiếng và cũng có thể dùng những danh từ cao đẹp… Ai cũng có thể nói được và dùng được những danh từ chìa khoá của thời thượng, những danh từ gợi cảm đầy dân tộc tính và nhân loại tính, nhưng tiếng súng đại bác và tiếng phản lực cơ vẫn ồn ào ấm ĩ và lấn át hết tất cả những khẩu hiệu cao đẹp trên đời này.

Chiến tranh càng ngày càng lan rộng, không phải vì thiếu người tranh đấu cho hoà bình… mà bởi vì đã có quá nhiều người tranh đấu cho hoà bìnhchúng tôi nói đến hoà bình, các ngài nói đến hoà bình; Phật giáo nói đến hoà bình, các tôn giáo khác đều nói đến hoà bình: Mỹ, Pháp, Anh, Tàu, Nga, Bắc Việt và Nam Việt đều nói đến hoà bình; tất cả chúng ta đều ca tụng hoà bình, mà đau đớn biết bao là càng nói nhiều đến hoà bình thì máu lửa ở Việt Nam càng trở nên ác liệt thảm khốc hơn nữa.

Nói như thế, không phải chúng tôi đề nghị chúng ta hãy nói nhiều đến chiến tranh hay là chúng ta hãy chấp nhận chiến tranh. Không phải thế. Không ai lại có thể tàn nhẫn lãnh đạm thờ ơ như vậy và chúng tôi cũng không thể nào có thái độ ngây thơ như vậy.

Chúng tôi chỉ muốn lễ độ báo nguy với tất cả rằng không phải chỉ lên tiếng, không phải chỉ dùng những khẩu hiệu tình cảm là đủ; không phải chỉ suốt ngày suốt đêm chạy Đông cầu Tây để hô hào bênh vực cho hoà bình là đủ; không phải chỉ nói đến tình thương là có tình thương, không phải chỉ nói đến Đạo Pháp và Dân Tộc là cứu nguy quê hương và Tôn Giáo, không phải chỉ nói về hoà bình là đem hoà bình về cho quê hương.

Khi nói như trên, chúng tôi cũng không phải ngây thơ đến nỗi đề nghị với các ngài là đừng lên tiếng và chỉ giữ im lặng thụ động. Không phải thế.

Chúng tôi chỉ muốn lễ độ báo nguy với tất cả chúng ta rằng không phải lời nói là quan trọng, không phải im lặng là quan trọng, mà cũng không phải hành động là quan trọng, mà không phải vô vi thụ động là quan trọng.

Chỉ có một điều duy nhất quan trọng, chỉ một điều quan trọng tối thượng là mỗi người phải dám nhìn thẳng vào bộ mặt thực của chính mình, tự hỏi rằng mình có lường gạt mình bằng những đường lối tinh vi; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự tự do trong tư tưởng; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự giải phóng khỏi tất cả sự sợ hãi trong ý thức và vô thức; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự tiêu trừ hết mọi tham vọng, dù là tham vọng tâm linh; có thực sự tiêu trừ hết mọi đố kỵ, thù hận; có thực sự tiêu trừ hết mọi sự triển khai bản ngã dưới mọi hình thức bằng cách lấp đầy sự trống rỗng của bản ngã bằng những ý niệm cao đẹp, bằng những khẩu hiệu mà ai cũng muốn dùng trên lưỡi và môi như là dân tộc, hoà bình, bác ái, từ bi, trách nhiệm vân vân?

Mỗi người đều chịu trách nhiệm cuộc phân hoá của quê hương hiện nay, mỗi người đều có tội, mỗi người đều đồng loã với sự tương tàn huynh đệ, máu đổ, nhà tan. Tất cả chúng ta đều đồng loã với cuộc chiến tranh này, dù tham chiến hay không tham chiến. Chúng ta đồng loã bằng cuộc sống nông cạn, bằng tình cảm yếu đuối, bằng thành kiến cố định, bằng sự bảo vệ bản ngã, bằng lý tưởng giả đạo đức, nhất là bằng tất cả sự sợ hãi, dưới đủ mọi hình thức.

Sợ hãi là cơn bệnh nặng nề nhất trong mỗi người; sợ hãi là mầm mống của tất cả mọi cuộc chiến tranh; vì sợ hãi nên phải lên tiếng, vì sợ hãi, nên phải im lặng; vì sợ hãi nên phải thụ động, trốn trong tháp ngà.”

5 năm sau khi những lời này được nói ra, chiến tranh chấm dứt. Nhưng nó có chấm dứt thật hay không? Thích Minh Châu khẳng định:

“Chiến tranh nay mai sẽ chấm dứt, nhưng sự nô lệ của con người không hẳn là mất đi, khi hoà bình đến, sự nô lệ này càng hiện lên rõ rệt hơn nữa, vì chỉ có một sự nô lệ đáng sợ là sự nô lệ của tinh thần và tư tưởng, còn tất cả sự nô lệ khác chỉ có tính cách phụ thuộc.”

Sự nô lệ ấy ở đâu ra, và cần phải làm gì?

Tất cả những sự sụp đổ hiện nay, tất cả cơn khủng hoảng hiện nay đều xuất phát từ sự nô lệ tâm thức của cá thể. Chiến tranh xuất phát từ sự mâu thuẫn nội tại của cá thể; cơn bệnh của tập thể phát xuất từ ý thức phân tán của cá thể. Chủ nghĩa quốc gia, cũng như chủ nghĩa quốc tế, không giải quyết được sự mâu thuẫn của ý thức con người; tất cả những ý thức hệ cũng đều thất bại, vì ý thức hệ trở thành quan trọng hơn con người; con người bị nô lệ vào ý thức hệ gây ra những mầm mống phân ly với nhau và hy sinh cho một tương lai ảo tưởng mà bỏ quên hiện tại sống động. Tín điều và tín ngưỡng của tôn giáo cũng gây mầm mống chia rẽ trong con người. Tất cả những cuộc cách mạng lịch sử đều thất bại, vì những cuộc cách mạng ấy đã xây dựng trên những tương quan sai lầm bất động giữa cá thể và tập thể, giữa tư thể và xã hội. Chỉ có một cuộc cách mạng quan trọng và có ý nghĩa, đó là cuộc cách mạng nội tâm của cá thể sáng tạo. Cách mạng nội tâm là cuộc cách mạng của ý thức, của tư tưởng toàn diện trong con người.

50 năm sau, điều quan trọng ấy đã được làm đến đâu rồi? Bao nhiêu người còn ý thức về tình thế mà mình đang ở trong, ngay giữa trạng thái được gọi là hòa bình? Bao nhiêu người thực sự hiểu điều họ đang làm, điều họ đang nói, điều họ gọi là “ngàn năm văn hiến” hay “văn hóa Việt Nam”?

“Thực tính mấy ngàn văn văn hiến ấy là gì? Thực tính của Việt Tính là gì? Nói khác đi, căn nguyên của tinh thần Việt Nam là gì? Nghĩa là cái gì đã làm con người Việt Nam phải đến tình thế lịch sử hiện nay? Cái gì đã làm hai chữ Việt Nam có mặt và đang có mặt một cách đẫm máu trên mặt trái đất hiện nay? Và cái gì sẽ đưa Việt Nam đi đến trong tương lai – đi về tinh túy của quê hương hay đi về sự vong quốc, mất mọi gốc rễ, xa lìa nguồn gốc của đất mẹ? Hiểu được cái gì ấy đã nuôi dưỡng tinh thần dân Việt từ mấy ngàn năm nay, hiểu được cái ấy là tìm ra được thực tính, thực chất, bản tính, bản chất của Việt Nam, sự hiện diện của Việt Nam trong văn hóa Đông Phương và sự đối diện của Việt Nam với văn hóa Tây Phương. Hậu quả của sự hiện diện ấy là hiện trạng của con người Việt Nam bây giờ, một hiện trạng thê thảm được thể hiện qua ý thức về sự đánh mất thực tính của Việt Nam đồng một nhịp với sự đánh mất thực tính của Đông phương, song hành với sự đánh mất thực tính của Tây phương trong sự khủng hoảng của nền văn minh Tây Phương hiện đại. Sự khủng hoảng này đã tìm được mảnh đất Việt Nam để phát hình một cách ngoạn mục bi đát qua trận chiến tranh Việt Nam vì Việt Nam là mảnh đất mà con người đã trải qua kinh nghiệm tang thương nhất về sự mâu thuẫn cao độ giữa sự hiện diện và sự đối diện, giữa sự đánh mất về tự tính và sự đánh mất về tha tính, giữa sự khủng hoảng của những giá trị Đông Phương và những giá trị Tây Phương. 

Sự khủng hoảng ấy phát ra từ sự tàn phế suy liệt trong tinh thần Việt Nam, từ sự tiêu tán suy nhược của sinh lực Việt Nam: cơ thể Việt Nam đã mất sinh lực trong chính tự thân và chính sự mất sinh lực nội tại ấy đã là nơi đón rước con vi trùng nguy hiểm nhất ở thời hiện đại, đó là tinh thần hư vô (nihilisme) lan tràn khắp thế giới hiện nay. Chủ nghĩa hư vô là hậu quả của sự mất sinh khí trong tất cả mọi giá trị của nhân loại từ trước cho đến bây giờ và chính chủ nghĩa hư vô ấy đã đưa đến trận chiến tranh ác liệt ở Việt Nam từ mấy chục năm nay: và con người nhất là con người Việt Nam càng lúc lại càng không biết mình là ai, mình đang ở đâu, mình sẽ ra sao, vì tất cả mọi sự đã đảo lộn, tất cả mọi giá trị thiêng liêng đã đổ ngã, và ý thức của Việt Nam, càng lúc càng rã rời phân tán, và con người đang là “con người Việt Nam”, bỗng một sớm thấy mình hóa thân thành một con vật sợ hãi, con thú bị săn đuổi, sợ hãi tất cả mọi sự, run rẩy khắp toàn thân vì biết rằng mình có thể chết bất cứ lúc nào, không phải chỉ nơi trận địa mà ngay tại nhà mình, con thú sợ hãi ấy càng lúc càng sợ bâng quơ, càng lúc càng co rúm lại, vì sợ hãi làm cho người ta co rút lại, càng co rút lại thì mình càng nhỏ bé dần đến lúc nhỏ lại gần như một đồ vật, một gói, một trái banh tròn, của con người mà ai muốn đá đi đâu cũng được; tự chủ biến nghĩa đi và trở thành tự vệ, và sau cùng tự vệ biến nghĩa đi và trở thành tự động hay thụ động; con người biến thành con vật và con vật biến thành đồ vật rồi đồ vật biến thành cái máy, một thứ máy móc tự động.

Con người thì thảm thương như thế, nhưng còn sản phẩm tinh thần của con người? Sản phẩm tinh thần của con người trở nên một guồng máy được tổ chức một cách tinh vi tối tân; guồng máy to lớn ấy để ra những cái máy nhỏ, gọi là những con người máy; những đại học đường trở nên những lò đúc, mỗi năm cố gắng tạo ra thực nhiều những con người máy, mang tên là kỹ sư; bác sĩ, chuyên viên, ký giả, học giả v.v…. mỗi năm, từng lớp sinh viên ra đời; mang một nhãn hiệu đẹp đẽ, một chức tước cao trọng, để rồi không biết mình sống để làm gì trong một thế giới mà càng lúc con người càng vắng mặt. Càng lúc những đồ vật càng nhiều, và giá trị của đồ vật trở thành tiêu chuẩn để đánh giá con người. Con người lại trở nên một đồ vật giữa những đồ vật, văn hóa trở thành những trang điểm phấn son, làm đẹp một nét mặt khô chết. 

Đã từng có một thời như thế, nơi trái tim của tâm linh Việt Nam, điểm hội tụ của minh triết Việt Nam, những lời lẽ của trí huệ và từ bi được ấm nóng đanh thép tỏa ra như thế. Những lời này không chỉ nên được đọc mỗi 50 năm một lần, hay mỗi mùa Phật Đản. Hơn bao giờ hết, những câu hỏi đau đáu và những lời gửi gắm thiết tha ngài Viện trưởng để lại cho chúng ta, cần được đọc lại, cần được thể nhập và cần được hành động, trong từng hơi thở hôm nay:

“Đức Phật đã cứu chúng ta, bây giờ đến lượt chúng ta hãy cứu lấy Đức Phật. Làm sao làm sống lại Chân Lý? Làm sao cho niềm tin tôn giáo thôi còn là một món trang hoàng cho đời sống trí thức hay tệ hơn cho sinh hoạt cảm tình của con người, mà trái lại, phải trở thành nhịp thở của tim, thành máu lưu thông trong huyết quản, thành chính sự sống? Làm sao cho sống lại nụ cười hai ngàn năm trăm năm trước của đức Từ Phụ, nụ cười của Từ, Bi, Hỉ, Xả, để xóa tan vết hằn trên mặt thế giới đau thương? Việt Nam rách nát của chúng ta và cả nhân loại hiện nay, đang héo mòn trông đợi nụ cười ấy, nụ cười của Thế Tôn ngày Thành Đạo.”


Toàn bộ các trích đoạn trong bài đều trích từ tập sách “Trước sự nô lệ của con người – Con đường thử thách của văn hóa Việt Nam” – TT Thích Minh Châu – Nha Tu Thư và Sưu Khảo, Viện Đại Học Vạn Hạnh 1970. Bản điện tử chép từ Thư Viện Hoa Sen, có chỉnh sửa một vài lỗi typo.