Endgame: nhìn từ Việt Nam

Bằng một phong thái đĩnh đạc, trên nền nhạc bi tráng hào hùng, Thanos từ từ đưa Găng Tay Vĩnh Cửu lên, trước khi búng tay kết thúc, thong thả đưa ra một kết luận đầy tính triết học-tâm linh:

Ta là… điều không thể tránh.

Nhưng có búng tay bao nhiêu thì vẫn chưa kết thúc, bởi toàn bộ đá Vĩnh Cửu đã chuyển sang một bàn tay khác. Đến lượt Tony Stark từ từ đưa tay mình lên, thủng thẳng buông một vế đối vô tiền khoáng hậu:

Ta là… Iron Man.

Đây là câu thoại hàm hỗn thênh thang nhứt trong lịch sử các câu thoại của Holywood. Bởi nó tóm gọn toàn bộ tinh thần, toàn bộ tâm thế, toàn bộ thái độ sống không phải chỉ của một Iron Man, không chỉ của đế chế điện ảnh tạo ra Vũ trụ Marvel, mà là thái độ chung của toàn bộ loài người, loài động vật mà người Mỹ tự trao cho mình cái quyền đại diện. Đó là thái độ tự phụ ngông cuồng của con người trước thiên nhiên, và ý chí gan bướng lỳ lợm của hắn trước vũ trụ. Hắn không màng gì mạng sống của chính mình đã đành, hắn cũng chẳng màng chi số phận hẩm hiu của hành tinh hay nhân loại (như hắn vẫn rất mực khăng khăng thuyết phục mình và người khác). Cái hắn quan tâm? Là chính hắn. Căn tính hắn, bản ngã hắn, sự thật của hắn: niềm tin của hắn vào cái mà hắn cho là đúng, là hay, là tốt đẹp. Dù có tiêu hủy đến hạt bụi cuối cùng trong vũ trụ, thì hắn vẫn phải khẳng định cho bằng được, tao đây, tao nè, tao đã đến đây và tao đã làm điều ấy đó, rồi sao?

Còn người Việt Nam? Người Việt Nam lũ lượt kéo nhau ra rạp, lũ lượt góp tiền cho Marvel tiếp tục mần thêm phim, và, búng nhẹ tay trước khi uống cốc trà sữa thứ ba trong ngày, người Việt Nam hềnh hệch mà rằng:

Ta là… cái đéo gì cũng được. Hihi.

Nhìn thẳng vào chính mình: đọc lại Thích Minh Châu mùa Phật Đản

Rước Phật qua cầu Tràng Tiền. Ảnh VNexpess.

Phật Đản là mùa lễ hội của những người theo đạo Phật. Đó là mùa mà toàn thể tăng ni Phật tử cùng hướng về, và tri tạ, một sự kiện diễn ra hơn hai mươi lăm thế kỷ trước: ngày đức Phật đản sanh (và đối với một số nhánh Phật giáo, cũng là ngày Ngài thành đạo và nhập diệt). Ở những thành phố có truyền thống tâm linh lâu đời như Huế, lễ hội lại càng huy hoàng và trọng thể. Hoa sen được đặt trên sông, được rước trên xe, được ôm trên ngực. Dưới cờ và hoa, trong tiếng chiêng trống và kinh cầu, giữa cái nóng 39 độ mùa hè, hàng ngàn người con thành tâm rước Phật.

Chẳng phải là con Ngài, cũng chưa định làm tu sĩ, chỉ với một tấm lòng yêu kính Đức Cồ Đàm, với đôi mắt tò mò đứng bên lề đường nhìn lễ hội Vesak, tôi bất giác tự hỏi: “Đức Phật à, có thực là họ đang rước Ngài không vậy?”

Và tôi nhớ, hơn bao giờ hết, những lời của Thượng Tọa Thích Minh Châu, đúng 50 năm về trước. Đó là năm 1970, chiến tranh đang lan rộng và leo thang, đau thương tang tóc đang xảy ra trên khắp cõi Việt Nam. Tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, ngài Viện trưởng đã dùng những lời dưới đây để chào mừng ngày Phật Đản:

“Chiến tranh càng ngày càng trở nên ác liệt, tất cả những đau khổ lớn nhất của nhân loại đã xảy ra tại quê hương  của chúng ta, và hôm nay, giữa lòng đau đớn khôn cùng của đất nước, đấng Thế Tôn lại ra đời, như một vì sao Mai vụt hiện trên vùng tối đen của mặt đất thê lương này.

Đấng Thế Tôn không phải chỉ ra đời cách đây mấy ngàn năm vào một thời gian ấn định, vào một địa điểm xác định nào đó. Không, Đấng Thế Tôn ra đời mỗi ngày và mỗi giây phút trong đời sống chúng ta: chúng ta là những kẻ đồng thời với Ngài, ra đời với Ngài, đau đớn với Ngài, sống với Ngài, lên đường với Ngài và cùng đi về với Ngài trên con đường giải thoátcon đường của vì sao Mai tuyệt đối, hình ảnh bất diệt của Chân Như: đó cũng là dấu hiệu của Pháp thân bất sinh bất diệt giữa sự phân thân bi thảm trầm trọng của quê hương chúng ta.

Giữa cơn biến động tàn khốc của đất nước hiện nay, mỗi người đều cảm thấy rằng mình phải lên tiếng, vì không lên tiếng là có tội lớn với hồn thiêng của quê cha đất tổ; người nào cũng thấy rằng mình phải nói đến Hoà Bình và Dân Tộc, nói đến Tôn Giáo và Dân Tộc, nói đến Trách Nhiệm và Dân Tộc.

Còn những danh từ cao đẹp thời thượng của năm 2019 là gì? Cách mạng 4.0? Đổi mới Sáng tạo? Biến đổi Khí hậu? Nữ quyền? Thuận Tự Nhiên? Hay những gì gì nữa?

Tất cả sự lên tiếng đều đáng tôn kính, tất cả những danh từ cao đẹp đều đáng tôn quí, nhưng thật sự thì đằng sau sự lên tiếng ấy, đằng sau những danh từ cao đẹp ấy chúng ta sẽ thấy được những gì?

Tất cả lời nói đều trở nên vô nghĩa. Bất cứ người nào đi giữa đường cũng có thể lên tiếng và cũng có thể dùng những danh từ cao đẹp… Ai cũng có thể nói được và dùng được những danh từ chìa khoá của thời thượng, những danh từ gợi cảm đầy dân tộc tính và nhân loại tính, nhưng tiếng súng đại bác và tiếng phản lực cơ vẫn ồn ào ấm ĩ và lấn át hết tất cả những khẩu hiệu cao đẹp trên đời này.

Chiến tranh càng ngày càng lan rộng, không phải vì thiếu người tranh đấu cho hoà bình… mà bởi vì đã có quá nhiều người tranh đấu cho hoà bìnhchúng tôi nói đến hoà bình, các ngài nói đến hoà bình; Phật giáo nói đến hoà bình, các tôn giáo khác đều nói đến hoà bình: Mỹ, Pháp, Anh, Tàu, Nga, Bắc Việt và Nam Việt đều nói đến hoà bình; tất cả chúng ta đều ca tụng hoà bình, mà đau đớn biết bao là càng nói nhiều đến hoà bình thì máu lửa ở Việt Nam càng trở nên ác liệt thảm khốc hơn nữa.

Nói như thế, không phải chúng tôi đề nghị chúng ta hãy nói nhiều đến chiến tranh hay là chúng ta hãy chấp nhận chiến tranh. Không phải thế. Không ai lại có thể tàn nhẫn lãnh đạm thờ ơ như vậy và chúng tôi cũng không thể nào có thái độ ngây thơ như vậy.

Chúng tôi chỉ muốn lễ độ báo nguy với tất cả rằng không phải chỉ lên tiếng, không phải chỉ dùng những khẩu hiệu tình cảm là đủ; không phải chỉ suốt ngày suốt đêm chạy Đông cầu Tây để hô hào bênh vực cho hoà bình là đủ; không phải chỉ nói đến tình thương là có tình thương, không phải chỉ nói đến Đạo Pháp và Dân Tộc là cứu nguy quê hương và Tôn Giáo, không phải chỉ nói về hoà bình là đem hoà bình về cho quê hương.

Khi nói như trên, chúng tôi cũng không phải ngây thơ đến nỗi đề nghị với các ngài là đừng lên tiếng và chỉ giữ im lặng thụ động. Không phải thế.

Chúng tôi chỉ muốn lễ độ báo nguy với tất cả chúng ta rằng không phải lời nói là quan trọng, không phải im lặng là quan trọng, mà cũng không phải hành động là quan trọng, mà không phải vô vi thụ động là quan trọng.

Chỉ có một điều duy nhất quan trọng, chỉ một điều quan trọng tối thượng là mỗi người phải dám nhìn thẳng vào bộ mặt thực của chính mình, tự hỏi rằng mình có lường gạt mình bằng những đường lối tinh vi; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự tự do trong tư tưởng; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự giải phóng khỏi tất cả sự sợ hãi trong ý thức và vô thức; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự tiêu trừ hết mọi tham vọng, dù là tham vọng tâm linh; có thực sự tiêu trừ hết mọi đố kỵ, thù hận; có thực sự tiêu trừ hết mọi sự triển khai bản ngã dưới mọi hình thức bằng cách lấp đầy sự trống rỗng của bản ngã bằng những ý niệm cao đẹp, bằng những khẩu hiệu mà ai cũng muốn dùng trên lưỡi và môi như là dân tộc, hoà bình, bác ái, từ bi, trách nhiệm vân vân?

Mỗi người đều chịu trách nhiệm cuộc phân hoá của quê hương hiện nay, mỗi người đều có tội, mỗi người đều đồng loã với sự tương tàn huynh đệ, máu đổ, nhà tan. Tất cả chúng ta đều đồng loã với cuộc chiến tranh này, dù tham chiến hay không tham chiến. Chúng ta đồng loã bằng cuộc sống nông cạn, bằng tình cảm yếu đuối, bằng thành kiến cố định, bằng sự bảo vệ bản ngã, bằng lý tưởng giả đạo đức, nhất là bằng tất cả sự sợ hãi, dưới đủ mọi hình thức.

Sợ hãi là cơn bệnh nặng nề nhất trong mỗi người; sợ hãi là mầm mống của tất cả mọi cuộc chiến tranh; vì sợ hãi nên phải lên tiếng, vì sợ hãi, nên phải im lặng; vì sợ hãi nên phải thụ động, trốn trong tháp ngà.”

5 năm sau khi những lời này được nói ra, chiến tranh chấm dứt. Nhưng nó có chấm dứt thật hay không? Thích Minh Châu khẳng định:

“Chiến tranh nay mai sẽ chấm dứt, nhưng sự nô lệ của con người không hẳn là mất đi, khi hoà bình đến, sự nô lệ này càng hiện lên rõ rệt hơn nữa, vì chỉ có một sự nô lệ đáng sợ là sự nô lệ của tinh thần và tư tưởng, còn tất cả sự nô lệ khác chỉ có tính cách phụ thuộc.”

Sự nô lệ ấy ở đâu ra, và cần phải làm gì?

Tất cả những sự sụp đổ hiện nay, tất cả cơn khủng hoảng hiện nay đều xuất phát từ sự nô lệ tâm thức của cá thể. Chiến tranh xuất phát từ sự mâu thuẫn nội tại của cá thể; cơn bệnh của tập thể phát xuất từ ý thức phân tán của cá thể. Chủ nghĩa quốc gia, cũng như chủ nghĩa quốc tế, không giải quyết được sự mâu thuẫn của ý thức con người; tất cả những ý thức hệ cũng đều thất bại, vì ý thức hệ trở thành quan trọng hơn con người; con người bị nô lệ vào ý thức hệ gây ra những mầm mống phân ly với nhau và hy sinh cho một tương lai ảo tưởng mà bỏ quên hiện tại sống động. Tín điều và tín ngưỡng của tôn giáo cũng gây mầm mống chia rẽ trong con người. Tất cả những cuộc cách mạng lịch sử đều thất bại, vì những cuộc cách mạng ấy đã xây dựng trên những tương quan sai lầm bất động giữa cá thể và tập thể, giữa tư thể và xã hội. Chỉ có một cuộc cách mạng quan trọng và có ý nghĩa, đó là cuộc cách mạng nội tâm của cá thể sáng tạo. Cách mạng nội tâm là cuộc cách mạng của ý thức, của tư tưởng toàn diện trong con người.

50 năm sau, điều quan trọng ấy đã được làm đến đâu rồi? Bao nhiêu người còn ý thức về tình thế mà mình đang ở trong, ngay giữa trạng thái được gọi là hòa bình? Bao nhiêu người thực sự hiểu điều họ đang làm, điều họ đang nói, điều họ gọi là “ngàn năm văn hiến” hay “văn hóa Việt Nam”?

“Thực tính mấy ngàn văn văn hiến ấy là gì? Thực tính của Việt Tính là gì? Nói khác đi, căn nguyên của tinh thần Việt Nam là gì? Nghĩa là cái gì đã làm con người Việt Nam phải đến tình thế lịch sử hiện nay? Cái gì đã làm hai chữ Việt Nam có mặt và đang có mặt một cách đẫm máu trên mặt trái đất hiện nay? Và cái gì sẽ đưa Việt Nam đi đến trong tương lai – đi về tinh túy của quê hương hay đi về sự vong quốc, mất mọi gốc rễ, xa lìa nguồn gốc của đất mẹ? Hiểu được cái gì ấy đã nuôi dưỡng tinh thần dân Việt từ mấy ngàn năm nay, hiểu được cái ấy là tìm ra được thực tính, thực chất, bản tính, bản chất của Việt Nam, sự hiện diện của Việt Nam trong văn hóa Đông Phương và sự đối diện của Việt Nam với văn hóa Tây Phương. Hậu quả của sự hiện diện ấy là hiện trạng của con người Việt Nam bây giờ, một hiện trạng thê thảm được thể hiện qua ý thức về sự đánh mất thực tính của Việt Nam đồng một nhịp với sự đánh mất thực tính của Đông phương, song hành với sự đánh mất thực tính của Tây phương trong sự khủng hoảng của nền văn minh Tây Phương hiện đại. Sự khủng hoảng này đã tìm được mảnh đất Việt Nam để phát hình một cách ngoạn mục bi đát qua trận chiến tranh Việt Nam vì Việt Nam là mảnh đất mà con người đã trải qua kinh nghiệm tang thương nhất về sự mâu thuẫn cao độ giữa sự hiện diện và sự đối diện, giữa sự đánh mất về tự tính và sự đánh mất về tha tính, giữa sự khủng hoảng của những giá trị Đông Phương và những giá trị Tây Phương. 

Sự khủng hoảng ấy phát ra từ sự tàn phế suy liệt trong tinh thần Việt Nam, từ sự tiêu tán suy nhược của sinh lực Việt Nam: cơ thể Việt Nam đã mất sinh lực trong chính tự thân và chính sự mất sinh lực nội tại ấy đã là nơi đón rước con vi trùng nguy hiểm nhất ở thời hiện đại, đó là tinh thần hư vô (nihilisme) lan tràn khắp thế giới hiện nay. Chủ nghĩa hư vô là hậu quả của sự mất sinh khí trong tất cả mọi giá trị của nhân loại từ trước cho đến bây giờ và chính chủ nghĩa hư vô ấy đã đưa đến trận chiến tranh ác liệt ở Việt Nam từ mấy chục năm nay: và con người nhất là con người Việt Nam càng lúc lại càng không biết mình là ai, mình đang ở đâu, mình sẽ ra sao, vì tất cả mọi sự đã đảo lộn, tất cả mọi giá trị thiêng liêng đã đổ ngã, và ý thức của Việt Nam, càng lúc càng rã rời phân tán, và con người đang là “con người Việt Nam”, bỗng một sớm thấy mình hóa thân thành một con vật sợ hãi, con thú bị săn đuổi, sợ hãi tất cả mọi sự, run rẩy khắp toàn thân vì biết rằng mình có thể chết bất cứ lúc nào, không phải chỉ nơi trận địa mà ngay tại nhà mình, con thú sợ hãi ấy càng lúc càng sợ bâng quơ, càng lúc càng co rúm lại, vì sợ hãi làm cho người ta co rút lại, càng co rút lại thì mình càng nhỏ bé dần đến lúc nhỏ lại gần như một đồ vật, một gói, một trái banh tròn, của con người mà ai muốn đá đi đâu cũng được; tự chủ biến nghĩa đi và trở thành tự vệ, và sau cùng tự vệ biến nghĩa đi và trở thành tự động hay thụ động; con người biến thành con vật và con vật biến thành đồ vật rồi đồ vật biến thành cái máy, một thứ máy móc tự động.

Con người thì thảm thương như thế, nhưng còn sản phẩm tinh thần của con người? Sản phẩm tinh thần của con người trở nên một guồng máy được tổ chức một cách tinh vi tối tân; guồng máy to lớn ấy để ra những cái máy nhỏ, gọi là những con người máy; những đại học đường trở nên những lò đúc, mỗi năm cố gắng tạo ra thực nhiều những con người máy, mang tên là kỹ sư; bác sĩ, chuyên viên, ký giả, học giả v.v…. mỗi năm, từng lớp sinh viên ra đời; mang một nhãn hiệu đẹp đẽ, một chức tước cao trọng, để rồi không biết mình sống để làm gì trong một thế giới mà càng lúc con người càng vắng mặt. Càng lúc những đồ vật càng nhiều, và giá trị của đồ vật trở thành tiêu chuẩn để đánh giá con người. Con người lại trở nên một đồ vật giữa những đồ vật, văn hóa trở thành những trang điểm phấn son, làm đẹp một nét mặt khô chết. 

Đã từng có một thời như thế, nơi trái tim của tâm linh Việt Nam, điểm hội tụ của minh triết Việt Nam, những lời lẽ của trí huệ và từ bi được ấm nóng đanh thép tỏa ra như thế. Những lời này không chỉ nên được đọc mỗi 50 năm một lần, hay mỗi mùa Phật Đản. Hơn bao giờ hết, những câu hỏi đau đáu và những lời gửi gắm thiết tha ngài Viện trưởng để lại cho chúng ta, cần được đọc lại, cần được thể nhập và cần được hành động, trong từng hơi thở hôm nay:

“Đức Phật đã cứu chúng ta, bây giờ đến lượt chúng ta hãy cứu lấy Đức Phật. Làm sao làm sống lại Chân Lý? Làm sao cho niềm tin tôn giáo thôi còn là một món trang hoàng cho đời sống trí thức hay tệ hơn cho sinh hoạt cảm tình của con người, mà trái lại, phải trở thành nhịp thở của tim, thành máu lưu thông trong huyết quản, thành chính sự sống? Làm sao cho sống lại nụ cười hai ngàn năm trăm năm trước của đức Từ Phụ, nụ cười của Từ, Bi, Hỉ, Xả, để xóa tan vết hằn trên mặt thế giới đau thương? Việt Nam rách nát của chúng ta và cả nhân loại hiện nay, đang héo mòn trông đợi nụ cười ấy, nụ cười của Thế Tôn ngày Thành Đạo.”


Toàn bộ các trích đoạn trong bài đều trích từ tập sách “Trước sự nô lệ của con người – Con đường thử thách của văn hóa Việt Nam” – TT Thích Minh Châu – Nha Tu Thư và Sưu Khảo, Viện Đại Học Vạn Hạnh 1970. Bản điện tử chép từ Thư Viện Hoa Sen, có chỉnh sửa một vài lỗi typo.

Khổ, Đau và Trung Thực

KHỔ

Chúng ta quá quy hướng vào chính ta. Ta sống trong vỏ ốc của tự ngã, ngày càng lớn theo ta, cơ hồ không lột bỏ được. Dường như ta mang nó theo suốt đời, từ tấm bé đến ngày nhắm mắt. Tuy nhiên, thiên nhiên vẫn hiến cho ta nhiều cơ hội đập vỏ bước ra, và cơ hội đầu tiên, thuận tiện nhất, là khi ta bước vào thời hoa niên. Đó là lần đầu tiên cái tôi của ta thoạt biết có “người khác”. Tôi muốn nói đến sự thức tỉnh của dục tình. Một cái tôi, tưởng là toàn nguyên, là bất khả phân, giờ đây như tự chẻ đôi ra. Tình yêu bấy lâu ngủ say trong đáy tim vươn mình lên, và gây bạo động. Vì đây là lúc vừa dấy lên, tình yêu đòi hỏi ngay, cùng một lúc, vừa xác định cái tôi, vừa trừ bỏ cái tôi. Tình yêu khiến cái tôi tự mất đi trong đối tượng nó yêu, nhưng đồng thời cũng đòi quyền chiếm hữu đối tượng ấy. Thật là mâu thuẫn, và chính mâu thuẫn ấy là một đại bi kịch của nhân sinh. Cảm giác căn bản ấy có lẽ là nguyên động lực thúc giục loài người hướng thượng. Thượng Đế ban khổ cho con người để hoàn tất con người.” – D. T. Suzuki, Thiền Luận, Trúc Thiên dịch


ĐAU

Bạn có thể thử kháng cự và bảo vệ mình khỏi sự đau. Và bạn có thể thành công ở một chừng mực nào đó. Nếu bạn nỗ lực hết mình, bạn thậm chí có thể ngăn chặn nỗi đau, không cho nó được cảm thấy. Nhưng rồi bạn sẽ không bao giờ nhận ra, bất hạnh thực sự chính là việc không cho phép nỗi đau chạm vào mình. Nỗi đau ở đó cho bạn, không phải để chống lại hay hành hạ bạn.


TRUNG THỰC

Để tôi nói với bạn tại sao bạn nên trung thực. Bởi vì bạn không thể lừa dối. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối suy nghĩ của bạn, bạn cũng không thể lừa dối cảm xúc của bạn. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối cảm xúc của bạn, bạn cũng không thể lừa dối cơ thể của bạn. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối cơ thể của bạn, bạn cũng không thể lừa dối tinh thể (being/spirit) của bạn. Vì tinh thể của bạn luôn luôn biết cái gì là thật và cái gì là giả. Và nếu bạn cứ cố gắng tiếp tục lừa dối bản thể của mình (thường thì vì bạn quá sợ đau, sợ khổ), nó sẽ giống như là tự tử: bạn đang phá hủy chính mình. Cho nên để sống trọn vẹn, sống cho ra sống, chỉ còn một cách trung thực mà thôi.

Chấm xanh nhạt ấy

“Nhìn lại lần nữa đi vào cái chấm ấy. Đó là đây. Đó là nhà. Đó là ta. Trên cái chấm đó là tất cả những người ta yêu, ta biết, tất cả những người ta từng nghe nói đến, từng sống trên đời. Là khối kết tập của tất cả niềm vui nỗi khổ, của hàng ngàn tôn giáo, lý tưởng, và học thuyết kinh tế, mọi kẻ săn bắn và hái lượm, mọi anh hùng và mọi thằng hèn, tất cả những người sáng tạo và những kẻ hủy diệt các nền văn minh, tất cả vua chúa và nông dân, tất cả những cặp đang yêu, mọi ông bố bà mẹ và các em bé tràn trề hy vọng, những nhà sáng chế và thám hiểm, những bậc thầy đạo đức, những chính trị gia biến chất, tất cả các “siêu sao”, tất cả các “lãnh tụ tối cao”, mọi thánh nhân và mọi con người tội lỗi trong lịch sử loài người đều ở cả đó, xúm xít trên một hạt bụi nhỏ nhoi treo lơ lửng trong một tia nắng mặt trời”.

“Look again at that dot. That’s here. That’s home. That’s us. On it everyone you love, everyone you know, everyone you ever heard of, every human being who ever was, lived out their lives. The aggregate of our joy and suffering, thousands of confident religions, ideologies, and economic doctrines, every hunter and forager, every hero and coward, every creator and destroyer of civilization, every king and peasant, every young couple in love, every mother and father, hopeful child, inventor and explorer, every teacher of morals, every corrupt politician, every “superstar,” every “supreme leader,” every saint and sinner in the history of our species lived there-on a mote of dust suspended in a sunbeam.”

– Carl Sagan

Cái chết của loài Ong

Hôm nay anh đọc một bài báo về việc các loài côn trùng đang lặng lẽ biến mất. Anh bỗng thần người ra, nhớ về những lần bị ong đốt hồi nhỏ (thường là lúc đang phá tổ ong), những khi ngồi nhìn đàn kiến di chuyển hàng tiếng đồng hồ (thường là trước khi chọc tổ kiến), những lúc thức khuya rủ nhau đi xem ve sầu lột xác (rồi thử kéo con ve non ra khỏi vỏ để đến nỗi cánh nó bị cháy và không bay được nữa). Rồi những châu chấu cào cào bị bắt làm mồi câu cá, những dế mèn bị bắt đá nhau, những cánh cam, bọ rùa, bọ xít, bọ hung, bươm bướm, chuồn chuồn… cả một thế giới côn trùng xinh đẹp và bí ẩn, vừa là đối tượng để chiêm ngắm, vừa là nạn nhân của sự dã man vô thức của đám trẻ nít bọn anh.

Anh không biết mình đã góp bao nhiêu phần trong số 80-90% các loài côn trùng đã biến mất khỏi bề mặt trái đất trong 20 năm qua. Dù chỉ là một phần tỉ tỉ, thì anh cũng đã góp phần vào đó. Mà đó chỉ mới là những gì anh nhìn thấy, anh nhớ về, anh ý thức được. Phần lớn hệ quả từ hành động của anh hàng ngày, anh hoàn toàn không hay biết. Anh cứ sống, và những con ong cứ chết.

Điều đó sẽ chẳng can hệ gì nếu anh không nhớ và không buồn. Nhưng cảm xúc tự đến: Tự Nhiên không cho phép anh trốn chạy. Chúng thúc giục anh ngước nhìn lên tán cây từ cửa sổ một quán quen, chúng cho anh chút mừng vui khi nhìn thấy bầy ong vàng đang hăng say làm việc – loại niềm vui nghẹn ngào khó tả như gặp lại một người bạn thiết đã quá lâu không gặp – để rồi, gần như ngay lập tức, chúng nhúng anh vào một nỗi buồn sâu thẳm, rằng đây rất có thể là một trong những tổ ong cuối cùng mà anh được nhìn ngắm, rằng sau này, kể cả khi anh muốn được ong đốt (chứ không phải bị), thì cũng không còn ai ở đó để mà đốt anh.

Chúng ghim vào tim anh một cú đau nhói để cho anh nhớ, bởi vì, dù anh không còn quá ngu nhưng lại có một trí nhớ quá tồi: cái chết của ong cũng chính là cái chết của anh.

Trí thông minh nhân tạo và sự ngu xuẩn tự nhiên

(Mưa trích dịch từ “21 lessons for the 21th century” của Yuval Noah Harari)

Một cảnh trong series Westworld

Có một mẩu tin tốt lành là ít nhất trong một vài thập kỷ tới, chúng ta sẽ không phải đối mặt với cơn ác mộng khoa-học-viễn-tưởng rằng AI sẽ đạt tới ý thức (consciousness) và quyết định nô dịch hoặc tiêu diệt loài người. Chúng ta sẽ ngày càng dựa vào các thuật toán để đưa ra quyết định, nhưng sẽ rất ít khả năng các thuật toán sẽ thao túng chúng ta một cách có ý thức. Chúng sẽ không có chút ý thức nào.

Khoa học viễn tưởng thường nhầm lẫn trí thông minh với ý thức, và cho rằng để đuổi kịp hoặc vượt qua trí tuệ con người, máy tính sẽ phải phát triển ý thức. Cốt truyện cơ bản của hầu hết phim và sách về AI đều xoay quanh một thời điểm kỳ ảo khi một chiếc máy tính hoặc một robot có được ý thức. Khi điều đó xảy ra, thì hoặc là nhân vật chính loài người rơi vào tình yêu với con robot, hoặc con robot cố giết tất cả con người, hoặc cả hai thứ xảy ra cùng một lúc.

Trong thực tế, không có lý do để cho rằng trí thông minh nhân tạo sẽ đạt tới ý thức, vì trí thông minh và ý thức là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Trí thông minh là khả năng giải quyết vấn đề. Ý thức là khả năng cảm thụ những thứ như là đau đớn, hoan lạc, yêu thương và giận dữ. Chúng ta thường lẫn lộn hai khái niệm này bởi vì ở loài người và các động vật có vú khác trí thông minh thường đi cùng với ý thức. Động vật có vú giải quyết các vấn đề bằng cảm thụ. Trong khi đó, máy tính giải quyết vấn đề theo cách hoàn toàn khác.

Có một số con đường khác nhau dẫn đến trí thông minh cao cấp, và chỉ một vài trong số những con đường này có liên quan đến việc đạt tới ý thức. Cũng giống như máy bay bay nhanh hơn chim mà không hề phát triển lông vũ, máy tính cũng có thể xử lý vấn đề tốt hơn động vật có vú mà không cần phát triển khả năng cảm thụ. Đúng là AI sẽ phải phân tích chính xác cảm giác của con người để chữa bệnh cho họ, nhận ra quân khủng bố, làm mai mối hoặc di chuyển giữa đường phố đầy khách bộ hành. Nhưng nó có thể làm như thế mà không cần có chút cảm giác nào của riêng nó. Một thuật toán không cần phải cảm thấy vui vẻ, tức giận hay sợ hãi để nhận ra các mẫu sinh hóa (biochemistry patterns) khác nhau của những con vượn vui vẻ, tức giận hay sợ hãi.

Tất nhiên, không phải hoàn toàn không có khả năng là AI sẽ phát triển cảm giác của riêng nó. Chúng ta chưa biết đủ nhiều về ý thức để có thể chắc chắn về việc này. Nhìn chung, có ba khả năng mà chúng ta cần cân nhắc:

  1. Ý thức có liên hệ với các thực thể sinh hóa hữu cơ theo một cách nhất định nào đó khiến cho việc tạo ra ý thức trên các hệ thống vô cơ là bất khả.
  2. Ý thức không có liên hệ với các thực thể sinh hóa hữu cơ, nhưng nó liên hệ với trí thông minh theo một cách nhất định khiến cho máy tính có khả năng phát triển ý thức, và máy tính sẽ PHẢI phát triển ý thức nếu chúng muốn vượt qua một ngưỡng thông minh nhất định.
  3. Không có chút liên hệ nào giữa ý thức và hệ thống sinh hóa hữu cơ lẫn trí thông minh cao cấp. Vì thế máy tính có thể phát triển ý thức – nhưng không nhất thiết như vậy. Chúng có thể trở nên siêu thông minh trong khi không có chút ý thức nào.

 Ở mức độ hiểu biết hiện tại, chúng ta không thể loại trừ bất cứ khả năng nào trong các khả năng trên. Nhưng chính xác vì chúng ta biết quá ít về ý thức, có rất ít khả năng chúng ta có thể sớm tạo ra các máy tính có ý thức. Nên mặc cho sức mạnh ghê gớm của trí thông minh nhân tạo, trong tương lai có thể dự đoán được (foreseeable future), việc sử dụng nó vẫn ít nhiều sẽ cần đến ý thức của con người.

Hiểm họa nằm ở chỗ nếu chúng ta dồn quá nhiều nguồn lực vào phát triển AI và quá ít vào phát triển ý thức của con người, sự tinh vi của trí tuệ nhân tạo sẽ chỉ phục vụ cho việc làm mạnh thêm lên sự ngu xuẩn tự nhiên (natural stupidity) của con người. Chúng ta sẽ ít có khả năng bị tấn công bởi một cuộc nổi loạn của robot trong những thập kỷ tới, nhưng chúng ta sẽ phải đối mặt với những quân đoàn bots biết rõ cách thao túng cảm giác của chúng ta hơn cả mẹ chúng ta, và sử dụng khả năng huyền bí này để bán cho chúng ta cái gì đó – dù là một chiếc xe hơi, một chính khách, hay nguyên cả một hệ tư tưởng. Những con bots này có thể xác định nỗi sợ hãi, nỗi hận thù và những khao khát sâu kín nhất của chúng ta, và sử dụng những đòn bẩy nội tại (inner leverages) này để chống lại chúng ta. Chúng ta vốn đã được nếm thử điều này trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý gần đây, khi mà hackers đã tìm được cách thao túng cử tri bằng cách phân tích dữ liệu về họ và lợi dụng các thành kiến sẵn có của họ. Trong khi những câu chuyện khoa học viễn tưởng giật gân thường dựng lên các kịch bản tận thế đầy kịch tính, thì trong thực tế chúng ta rất có thể đang đối diện với một tận thế hết sức tầm thường bởi những cú click chuột.

Để tránh khỏi viễn cảnh đó, với mỗi đô-la và mỗi phút chúng ta đầu tư vào việc nâng cấp trí thông minh nhân tạo, sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta bỏ ra một đô-la và một phút để phát triển ý thức con người. Thật đáng tiếc, hiện tại chúng ta đang không làm gì nhiều để nghiên cứu và phát triển ý thức. Chúng ta chủ yếu chỉ nghiên cứu và phát triển khả năng con người dựa theo nhu cầu ngay trước mắt của hệ thống kinh tế và chính trị, thay vì dựa vào nhu cầu dài hạn của chúng ta với tư cách là các thực thể sống có ý thức (conscious beings). Sếp tôi muốn tôi trả lời emails nhanh nhất có thể, nhưng ông ta chẳng mấy quan tâm đến khả năng nếm và trân trọng thức ăn của tôi. Vì vậy, tôi kiểm tra emails ngay cả trong các bữa ăn, trong khi mất dần khả năng lưu ý đến cảm giác của chính mình. Hệ thống kinh tế gây sức ép khiến tôi phải mở rộng và làm phong phú danh sách đầu tư của mình, nhưng không cho tôi chút khích lệ nào để mở rộng và làm phong phú khả năng thấu cảm của tôi. Vì thế tôi phấn đấu để hiểu những bí ẩn của việc mua bán cổ phiếu, trong khi bỏ ra ít nỗ lực hơn nhiều trong việc tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa của khổ đau.

Ở khía cạnh này, con người giống với các loài động vật đã thuần hóa khác. Chúng ta tạo ra những giống bò ngoan ngoãn có khả năng cho lượng sữa khổng lồ, nhưng ngoài việc đó ra thì chúng thua kém xa tổ tiên hoang dã của chúng. Chúng kém nhanh nhẹn hơn, kém tò mò hơn và ít khả năng thích nghi hơn. Ở thời điểm hiện tại chúng ta đang tạo ra những con người thuần hóa (tame humans) có khả năng tạo ra một lượng lớn dữ liệu và vận hành như những con chíp hiệu quả trong một cỗ máy xử lý dữ liệu khổng lồ, nhưng những con bò-dữ liệu này chẳng màng gì tới việc tối ưu hóa tiềm năng của con người. Đúng là chúng ta chẳng biết tiềm năng của con người có thể đạt đến đâu, vì chúng ta còn biết quá ít về tâm trí của con người. Thế mà chúng ta lại chẳng đầu tư mấy vào việc khám phá tâm trí con người, thay vào đó lại tập trung vào việc tăng tốc đường truyền Internet và hiệu quả của các thuật toán Big Data. Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ đâm đầu vào việc tạo ra những con người thoái hóa (downgraded humans) lạm dụng những hệ thống máy tính tiến hóa (upgraded computers) để tàn phá chính họ và tàn phá thế giới.

Lời người dịch: Vì đoạn này Yuval dùng chữ “tame humans” quá đắt làm tôi nhớ đến một đoạn mà D.H. Lawrence cũng dùng chữ “tame” trong phần cuối của cuốn “Lady Chatterley’s Lover”, mà tôi chép lại dưới đây.

“But won’t it ever come to an end?” she said.

“Ay, it will. It’ll achieve its own salvation. When the last real man is killed, and they’re all tame: white, black, yellow, all colors of tame ones: then they’ll all be insane. Because the root of sanity is in the balls. Then they’ll all be insane, and they’ll make their grand auto da fé. You know auto da fé means act of faith? Ay, well, they’ll make their own grand little act of faith. They’ll offer one another up.”

“You mean kill one another?”

“I do, duckie! If we go on at our present rate then in a hundred years’ time there won’t be ten thousand people in this island: there may not be ten. They’ll have lovingly wiped each other out.” The thunder was rolling further away.

“How nice!” she said.”

Thế giới

Thế giới đang ngày càng được thiết kế để gây thêm phiền não cho chúng ta. Hạnh phúc chẳng có chút ích lợi gì cho việc kinh doanh cả. Nếu chúng ta hạnh phúc với những gì chúng ta có, thì tại sao chúng ta phải cần thêm nữa? Làm sao anh bán được kem dưỡng da chống lão hoá? Anh làm người ta lo lắng về việc già đi. Làm sao anh lùa người ta đi bỏ phiếu cho một đảng chính trị? Anh khiến người ta sốt vó lên vì vấn đề nhập cư. Làm sao anh dụ được người ta mua bảo hiểm? Bằng cách làm người ta lo sợ về mọi thứ. Làm sao anh khiến được người ta đi phẫu thuật thẩm mỹ? Bằng cách nhấn mạnh vào các khuyết điểm ngoại hình của họ. Làm sao dụ họ xem TV? Khiến họ lo lắng rằng họ sẽ bỏ lỡ nhiều thứ nếu không xem. Làm sao bán một cái smartphone mới? Làm cho họ cảm thấy như thể họ đang bị bỏ lại đằng sau. Sống bình dị trở thành một kiểu hành động cách mạng. Sống hạnh phúc với sự tồn tại không-cần-nâng-cấp của bạn, sống thoải mái với những bản-thể-người đầy hỗn loạn của chúng ta, hoàn toàn không tốt cho việc kinh doanh một chút nào.

“The world is increasingly designed to depress us. Happiness isn’t very good for the economy. If we were happy with what we had, why would we need more? How do you sell an anti-ageing moisturiser? You make someone worry about ageing. How do you get people to vote for a political party? You make them worry about immigration. How do you get them to buy insurance? By making them worry about everything. How do you get them to have plastic surgery? By highlighting their physical flaws. How do you get them to watch a TV show? By making them worry about missing out. How do you get them to buy a new smartphone? By making them feel like they are being left behind. To be calm becomes a kind of revolutionary act. To be happy with your own non-upgraded existence. To be comfortable with our messy, human selves, would not be good for business.” 

Matt Haig, Reasons to Stay Alive