Đọc Saint-Exupéry-Bùi-Giáng: những dặm dài dàn rộng giữa muôn sao

Antoine de Saint-Exupéry – người phi công mộng mơ tha thiết ấy đã không còn xa lạ gì với độc giả đại chúng Việt Nam. Nhưng Bùi Giáng – người thy sĩ phiêu bồng thâm viễn nọ thì hẳn vẫn còn là một cái tên bí ẩn. Bí ẩn không phải vì ít sách – sách Bùi Giáng vẫn được in nhiều và tái bản luôn luôn, các đầu sách trước 75 cũng đang được ảnh ấn chỉn chu, một số đầu còn có bản điện tử đầy đủ trên mạng (1). Bí ẩn chính là vì thứ ngôn ngữ mà ông dùng để viết và dịch vốn là loại ngôn ngữ của chuồn chuồn châu chấu, của thơ mộng phiêu bồng, của u huyền ẩn mật. Bởi thứ ngôn ngữ này mà nhiều người hẳn sẽ “dội” ra, cho rằng dài dòng, khó hiểu, lan man, bê bối. Nhưng những ai đã kiên nhẫn bước qua được màn sương kỳ ảo ấy, hiểu và yêu vẻ đẹp của tiếng Việt theo thể lệ Bùi Giáng rồi, chắc sẽ không thể đọc Saint-Exupéry qua bản dịch của ai khác nữa.

“Tôi tưởng chừng chàng đã nhân một đoàn chim di thê mà thoát vòng thao túng…”

Trước tiên và hơn ai hết, Bùi Giáng ý thức và thực hành dịch ở cảnh giới tối thượng của nó. Không chỉ thông thạo tiếng Hán, Anh, Pháp, Đức và am tường văn chương, triết học, tôn giáo kim cổ Đông Tây, ông còn là một người sáng tạo, một Thi sĩ Thiêng liêng (Poeta Sacer – chữ của Hamvas Béla), một kẻ say mê tiếng Việt đến “kiệt tận miệt bạc bình sinh”. Hãy nghe kẻ đó nói về dịch:

“Từ trong tinh thể của nó, dịch là tái tạo. Sự ấy dường như quá hiển nhiên. Ông Nguyễn Du, ông Nguyễn Khắc Hiếu đều tái tạo triệt để trong các bản dịch chuyện Tàu của các ông. Nhưng nói gì xa xôi. Thử nói gần gũi hơn. Nếu bây giờ ta đem Truyện Kiều dịch trở lại bằng văn xuôi Việt Ngữ, hoặc bằng thơ thất ngôn, ngũ ngôn, thì ấy cũng là tái tạo. Một ca nhi đem một bài ca ca lên, cũng là tái tạo bài ca. Xét cho cùng, mọi hành động và vô vi, cũng là tái tạo. Tái tạo bằng hơi thở riêng biệt một lần.” (2)

Chỉ một tâm hồn thể nhập những bí ẩn sâu xa nhất của đời sống mới hiểu dịch ở mức độ này:

“Từ trong tinh thể nó, Dịch là làm điều cưỡng bức. Dịch văn xuôi là điều cưỡng bức. Dịch thơ lại càng là cưỡng bức triệt để hơn nữa. Đừng nói chi tới sự vụ dịch thơ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Chỉ thử hỏi: Có thể nào đem thơ Việt, dịch ra trở lại làm thơ Việt được không? Có thể nào đem thơ lục bát dịch ra làm thơ thất ngôn, hoặc ngũ ngôn, hoặc song thất lục bát, hay là thơ tám chữ? Nói triệt để hơn nữa: Có thể nào đem thơ lục bát dịch trở lại làm thơ lục bát? Chính ông Nguyễn Du, ông có thể nào tự mình đem thơ lục bát của mình dịch trở lại làm thơ lục bát? Không. Lời thơ kia chỉ hiện ra một lần trong phong thái riêng biệt của anh hoa phát tiết một lần. Buộc nó phải hiện ra trở lại trong phong thái khác, thì anh hoa tài tử có thể cho phát tiết một lần nữa, nhưng lần sau không còn là lần trước. Màu xanh của biển chiều thu năm nay không phải màu xanh của biển chiều thu năm ngoái. Màu xanh biển phút trước, không phải màu xanh biển phút sau. Luôn luôn trong vạn vật cũng như trong sinh hoạt tâm linh, có một trận tái tạo không ngừng. Phải chấp nhận sự đó như là điều hiển nhiên, thì mọi cuộc dịch dy mới có thể còn chút gì chính đáng trong cơn liên tồn cưỡng bức. Trái lại, nếu quan niệm hẹp hòi, nếu cho rằng dịch phải thật “sát”, không được cưỡng bức dịch dy, thì mặc nhiên người ta đã cưỡng bức một cách không chính đáng. Vì cuộc cưỡng bức nọ không đưa tới tái tạo tinh hoa, mà dẫn tới nô lệ ngục tù, nghĩa là sát phạt tinh hoa.” (3)

Tâm hồn đó, khi bắt tay vào dịch Saint-Exupéry, đã thiết tha thổ lộ:

“Kẻ trước, người sau, xin “dịch” đi, dịch lại những lời… Dịch, biến làm chuyển dịch cho tương giao. Bất cứ nhìn ai cắm cúi dịch Saint-Exupéry, ta hãy xem như đó là chuyện chung của những con người rủ nhau ghé vào bờ mộng. “Ở giữa lòng một vài đêm thâu lục nhạt, tôi đã nhìn những tia lửa băng trời thành một đường rẽ vút như một làn gió dài dàn rộng giữa muôn sao”.(4)

Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Saint-Exupéry-Bùi-Giáng hẳn là Hoàng Tử Bé. Nghe đâu cuốn này trước nay đã có đến 8 bản dịch Việt. Sẽ là thừa thãi, nhưng hãy cứ thử cưỡng bức so sánh vài bản dịch, chỉ một đoạn thôi, ta sẽ thấy ngay nơi đâu lấp lánh tinh thể tinh hoa:

“Các nàng đẹp, nhưng các nàng trống rỗng ở bên trong, chàng còn nói thêm như thế. Người ta không thể vì các nàng mà chết đi trong ngậm ngùi tưởng niệm. Hẳn nhiên, đóa hồng của ta, một bộ hành đi qua ắt tưởng là nó giống các nàng. Nhưng riêng nó, nó lại quan trọng hơn hết thảy các nàng, bởi chính nó được ta tự tay tưới nước. Bởi chính nó đã được ta giữ lại dưới cái bầu tròn. Bởi vì chính nó đã được ta che giữ sau một tấm bình phong. Bởi vì chính nó đã được ta bắt sâu, tỉa bọ (trừ một vài con để lại nhằm những cánh bướm mai sau). Bởi vì chính nó đã được ta lắng tai nghe than van, hoặc nghe tán hươu tán vượn diễm kiều tài tử, hoặc đôi lúc lại được nghe cả cái lặng im câm nín như chiều Xuân vắng vẻ thanh hà. Bởi vì đó là đóa hồng của hồn ta tưởng nhớ.”

– Bản dịch Bùi Giáng (1973)

“Các cô đẹp, nhưng các cô trống rỗng, em nói với họ. Người ta không thể chết vì các cô được. Phải, đoá hồng của tôi, một người qua đường tầm thường tưởng là nàng giống các cô. Nhưng đối với tôi thì nàng quan trọng hơn tất cả các cô, bởi vì chính là nàng mà tay tôi đã tưới. Bởi vì chính là nàng mà tôi đã đặt chính dưới bầu kính. Bởi vì chính là nàng mà tôi đã che bằng tấm bình phong. Bởi vì là nàng mà tôi đã bắt những con sâu (trừ hai ba con dành để thành bướm). Bởi vì chính là nàng mà tôi đã ngồi nghe than thở, hay tán hươu tán vượn, hay đôi khi cả lặng im nữa. Bởi vì đó là đoá hồng của tôi.”

– Bản dịch Vĩnh Lạc (1994)

“Các cô đẹp đấy, nhưng các cô lại trống rỗng, cậu lại nói tiếp với chúng. Người ta đâu thể chết vì các cô được. Còn bông hồng của tôi thì dĩ nhiên một lữ khách bình thường hẳn sẽ tưởng là nàng ấy giống các cô. Nhưng chỉ riêng mình nàng thôi, nàng đã quan trọng hơn tất cả các cô, bởi lẽ chính nàng đã được tôi tưới nước cho. Bởi lẽ chính nàng đã được tôi chắn bình phong cho. Bởi lẽ chính nàng đã được tôi bắt sâu cho (trừ hai hoặc ba con để chúng hóa bướm). Bởi lẽ chính từ nàng mà tôi đã nghe phàn nàn, hoặc khoe khoang, hoặc thậm chí đôi khi chẳng nói chẳng rằng. Bởi lẽ đấy là bông hồng của tôi.”  

– Bản dịch Trác Phong (2013)

Cái sự vụ “tái tạo trong hơi thở riêng biệt một lần” mới rõ rệt làm sao. Chỉ có vẻ như cứ sau 20 năm thì hơi thở lại khó khăn nhát gừng hơn một chút, khô cằn đứt đoạn hơn một chút, phổ thông rút gọn hơn một chút, và ít thơ mộng đi nhiều chút. Mỗi lần một bản dịch mới ra đời, là mỗi lần ta quay về ấp ôm Bùi Giáng, nâng niu Bùi Giáng, sụp lạy Bùi Giáng.

Vẫn là lời ông nói về dịch, trước khi bước vào “Cõi Người Ta”:

“Dịch văn – sao cứ gọi là dịch? – dịch văn biến thành câu chuyện: vừa bay lên, vừa lặn xuống, vừa nối liền hai bờ ngôn ngữ quá xa nhau. Thật vừa vui, vừa mệt mỏi.

Ngôn ngữ đa âm đòi hỏi lối phiên dịch như thế nào qua ngôn ngữ đơn âm? Đó là điều đáng xui chúng ta tư lự đăm chiêu.

Vì lẽ: tiết điệu đa âm có một phong thái dồi dào đương yêu cầu được tái hiện. Đây là trường hợp: ở bên kia từ ngữ, tiết nhịp của ngôn ngữ đương nói rất nhiều.

May sao, Việt ngữ đơn âm lại giàu sang âm vận. Nhưng không phải: ở mọi cơ hội, đều giản dị giàu sang. Do đó cần thêm một chút chuyển giao thỏa đáng, thì lời dịch sẽ tái lập được “cung bậc” gieo vàng của nguyên ngôn. Mà nguyên ngôn Saint-Exupéry lại chứa chan những thơ mộng khi u trầm, ngậm ngùi, lúc lộng lẫy. Cái điệu nói la cà diệu vợi, vừa chát chát vừa hắt hiu, lúc nhắc tình bạn hữu, lúc gợi tiếng U già, lúc chuyện trò với gái trên nhịp cầu hai cõi hoang vu.” (5)

Theo cái thể điệu ấy, cuộc đời phi công đã hiện bày huyền nhiệm dị thường:

“Đứng tại đây, mà hình hài thể phách đã ký thác vào những mù sương vây phủ, những mây kéo tối sầm; đứng ở đây mà hồn phi công nghìn dặm đã nhấm thấy trước rồi, cái vị chát những đêm bay.”

“Xăng đã cạn, nhưng mỗi lúc thấy chiếc mồi vàng, chúng tôi lại đuổi theo mà đớp; mỗi lần thấy đích thị là trạm nghỉ chân, là con đường sống, rồi lại đành đích thị bỏ rơi và đuổi theo một vì sao khác. Từ đó chúng tôi cảm thấy lạc lõng chìm ngập trong khoảng rộng liên hành tinh, chơi vơi giữa hàng trăm tinh cầu xa hút, biền biệt đuổi theo riêng một tinh cầu thiết thực, tinh cầu của riêng đời sống chúng tôi, chứa đựng những phong cảnh đầm ấm quen thân, những căn nhà bậu bạn, những luyến ái dịu dàng.”

“Chúng tôi đã hưởng được chính cái mùi hương ôn nhiệt thiêng liêng nhè nhẹ phảng phất giữa lòng một buổi lễ phong phú vui tươi. Ấy thế, nhưng thật ra chúng tôi nghèo vô hạn. Nào có gì đâu. Gió, cát và sao trên trời. Đúng là thể điệu khắc khổ của kẻ tu hành. Nhưng trên thảm cát ánh sáng lờ mờ kia, sáu bảy người với những bàn tay trắng, đã chia nhau không biết bao nhiêu của quý vô hình.” (6)

Và đây nữa, những giọt sương tinh thể đi thẳng vào giữa cõi tồn lưu:

“Tất cả chúng ta là kẻ man di, mà những đồ chơi mới đương làm ngất ngây choáng mắt. Những cuộc tung cánh phi cơ không có ý nghĩa nào khác. Cái nọ bay cao hơn cái kia một chút, cái kia chạy chóng hơn cái nớ một phần. Vậy chúng ta quên mất cái do lai xui chúng ta lao đầu mà xô cho máy chạy. Tạm thời là thế, cái cuộc chạy tưng bừng, nó che lấp cái đối tượng là cứu cánh, hoặc do lai. Mãi mãi than ôi vẫn rồi ra rứa.”

“Tuyệt hảo của phát minh cũng lăm le về chỗ quên mình là minh phát. Và, cũng như trong khí cụ, mọi cái gì máy móc hiện thể bên ngoài đã dần dà xóa bóng, và có đến với ta cũng tự nhiên như ngẫu sinh là một hòn sỏi biển trơn tròn, mà ngẫu sinh lại sinh từ sóng rộng, thì cũng vậy, cái tuyệt vời đáng nên tán tụng, là cái máy ta dùng, chính trong lần được dịch sử, đã dần dà tự biến dạng để người quên.

Xưa kia chúng ta tiếp xúc với phi cơ như chạm vào hồn phức tạp. Nhưng ngày nay quen nết, ta quên mất mình đang gửi nhịp với một động cơ sầu tỏa đương quay. Thế là tới đây, nó đã đáp ứng với chức vụ của mình, là quay vù, quay tít, như tim đập trong lồng, và cũng vậy, nào ai biết bên phổi mình đang có một quả tim quay. Ai lưu tâm lưu ý tới. Khí cụ ta dùng thân thuộc, đã mất hút lưu tâm. Ở bên kia khí cụ, và xuyên qua khí cụ, là ấy cõi sơ khai thiên nhiên sơ thủy ta tìm về bắt gặp lại, đó trùng lai – cõi thiên nhiên của chàng làm vườn, của chú hàng hải, của bác thi nhân.

Ấy rằng với nước, ấy rằng với hơi, ấy rằng với không khí, là ấy của người phi công cất cánh tiếp xúc đề huề. Lúc động cơ tung nhịp, lúc con tàu đã rạch sóng biển khơi, triều nước dâng, vỗ vào mạn tàu rột rột như rập rình chiêng dậy, quân nhạc ngân theo, thì con người có thể dõi theo việc làm kia bằng cách đo cật gan mình động đậy. Nó chấn động thế nào, thì ta cũng cảm rõ được từng phút, từng giây, chiếc thủy phi cơ càng tăng tốc độ, càng thu nhập thêm uy quyền trên làn sóng phân vân. Người phi công cảm thấy, trong cái khối mười lăm tấn kim khí kia, đang soạn sửa một hương nồng thuần thục, sắp dậy trào đưa toàn khối bay lên. Người phi công đưa tay nắm chặt thêm các tay lái, và dần dà thu nhập hết quyền hành nọ, như đón về một tặng vật ai trao. Nắm được tặng vật rồi, thì mọi bộ phận tay lái tự biến thành những sứ giả của quyền uy. Lúc quyền uy đã thục, người phi công chỉ cần làm một cử động nhẹ như chơi, nhẹ hơn vịn tay vào cành hái quả, là quá đủ để tách rời khỏi sóng nước cái thân con tàu yểu điệu, và đưa nó lên bầu trời dàn mộng giữa thương khung.”

“Và đây, thành phố ở tận tít trời Nam tận cùng thế giới, nhân vì ngẫu nhĩ gặp được chút linh khí của một chút bùn mềm, đã được thành lập phong nhiêu giữa những phún thạch nguyên sơ và dương băng biển Nam heo hút. Sát ngay cạnh những chất đá đen sì, phồn hoa kia sao mà xui lòng xao xuyến: huyền diệu của con người, dị thường của tao ngộ. Ta không biết vì đâu, ta không rõ bởi cách nào người du khách nọ đến viếng những khu vườn này, những khu vườn chỉ cho phép cư trú một thời gian quá ngắn, một chu kỳ địa chất, bằng cách nào viễn khách về đây một ngày giữa thiên thu nghe hồng ân chan rưới.

Tôi hạ cánh giữa tịch mịch chiều vàng. Punta Arenas! Hãy nhìn ta tựa lưng vào bờ giếng mà ngó gái giữa thanh xuân. Cách nhau hai bước, tôi càng thấy rõ cái lẽ huyền nhiệm kiếp người… Trong một thế giới mà sự sống giao tiếp dễ dàng với sự sống, mà những cành hoa giữa lòng gió hồn nhiên hôn phối với những cành hoa, một thế giới mà con thiên nga nào cũng quen biết mọi con thiên nga, trong thế giới đó, chỉ riêng con người là xây dựng căn lầu mộng cô đơn.” (7)

Ba chữ “Cõi Người Ta”, di sản thiêng liêng của Nguyễn Du, cũng chỉ riêng Bùi Giáng mới có thể lấy ra và đặt xuống, chỉ riêng Bùi Giáng thành tựu phiêu bồng. Và cũng chỉ riêng Bùi Giáng là người đủ tư cách đặt bút dịch “Citadelle”, tác phẩm chưa (và sẽ không bao giờ) hoàn thành của Exupéry, nơi chung đúc mọi tư tưởng bình sinh, nơi tập hợp mọi tâm linh triết lý, mọi giọt sương tỳ hải, mọi suối mát thiên thu chảy ra từ tâm hồn kỳ vĩ nọ.

“Cũng vậy là cái cây, mày chẳng hiểu biết tý gì về con người ta nếu mày đem trải nó tùm lum trên kỳ hạn liên tồn mà rờ rẫm mò mẫm mon men vén tóc bắt tay phân phối nó ra làm chi ly chia biệt. Cái cây chẳng phải thoạt tiên là hạt giống, rồi nảy mầm, rồi trổ mống, rồi mọc cành, rồi héo khô, rồi gỗ chết. Cái cây chính là cây cái cai cấy, cái uy lực tiềm tàng chậm rãi lớn rộng mà hôn phối trời xanh. Nó mở phơi lá cành ra mà đón gió thanh thiên thiền quyên mọc cỏ. Cái cây là cái gậy phiêu bồng không rục rịch để cho gió lá về đú đởn cuộc đong đưa. Cái cây là cái lá. Cái chim cái chóc, cái ngậm hồn ngồn lậm ngậm chiêm bao. Mày cũng vậy, hỡi thằng lai rai bé con non dại nà hào. Hóa Công con tạo là cái đã sản sanh ra mày, dưỡng dục cho mày lớn lên, đem càn khôn cọ mài con vũ trụ mà chan hòa đắp điếm cho mày liên tồn tiếp nối những dục vọng, những tiếc thương, những ngẫu nhiên kỳ ngộ, những lỡ cuộc thanh xuân, những đèo truông giải cấu, những niềm vui thị hiện, những vui sướng rã tan, những phẫn nộ chiêm bao, những nguyên lượng mộng mị, những huyền vi tiên nữ lồ lộ một lần rồi mất hút suốt thiên thâu, những thảy thảy nhớ nhu trắng phơ đầu bạc, những ra đi điêu đứng, những qui hồi không thể tìm lại con hồng nhạn ban sơ. Thượng Đế xô mày ra tồn sinh ngược đãi, Như Lai lôi mày về thái hư tịch mịch rỗng tuênh. Tuy nhiên mày là cái chi? Mày chẳng phải thằng học sinh kia, chẳng phải gã bồng con vợ nọ, chẳng phải thằng bé ấy, chẳng phải lão già nua nào. Mày là cái kẻ phải tự thân thành tựu thể thân mình. Bằng những cơn vui cuộc khổ, bằng riêng một lần yêu dấu em mọi ở đầu non, bằng duy nhất ngẫu nhiên những phen chết lịm linh hồn lúc ngó nhìn phía sau một tà xiêm lấp ló. Và nếu mày biết tự khám phá ra mình là ngành cây đong đưa, gắn liền vào thân cội, thì mày sẽ từng cơn nhấm gậm cái hương vị của thiên thu trong từng phen rún rẩy. Và mọi vật quanh mày sẽ trở thành mọi mọi thiên thu. Thiên thu là cái mạch suối rì rào, thiên thu là ánh sáng những con mắt lúc người yêu nhìn mày mỉm cười, thiên thu là khí mát đêm hôm. Và thời gian không còn là một cái đồng hồ sa lậu làm mòn hao hột hoàng sa sát na tinh thể, mà trở thành người thợ gặt hái đang góp bó chùm cụm liên tồn.” (8)

Như thế đó, một người Tây một người Đông, một phi công một thy sĩ, họ gặp nhau giữa thời đại ngổn ngang, tiếp ứng nhau giữa cằn khô sa mạc, để rồi sa mạc phát tiết, rớt hột mưa nguồn, nhú lên một nhánh lá hoa cồn, ngân lên một bản trường ca sa mạc (9), một lần cho mãi mãi về sau.


(1) Các nguồn sách Bùi Giáng:
– Tủ sách Bùi Giáng của Sách Khai Tâm (sách in sau 1975)
– Tủ sách Bùi Giáng của Thư Viện Huệ Quang (sách ảnh ấn theo nguyên bản trước 1975)
– Tủ sách Bùi Giáng của Talawas (các bản điện tử).

(2)(3): Trích Thi ca tư tưởng, Ca Dao, 1969

(4)(5)(6)(7): Trích Tựa và các chương I, III, IV, Cõi Người Ta, 1966, bản in lại của NXB Văn Nghệ, 2005

(8): Trích Cung Thành Sisyphe, in chung trong tập Biển Đông Xe Cát – Albert Camus, An Tiêm, 1969

(9): Tên các tập thơ/sách của Bùi Giáng: Mưa Nguồn (1962), Ngàn Thu Rớt Hột (1963), Sa Mạc Trường Ca (1963), Lá Hoa Cồn (1963), Sa Mạc Phát Tiết (1969)