Thực tình tính mệnh Việt Nam

Thiếu nữ Huế, 1963

Hai ngàn ba trăm năm trước, Trang Tử viết Nam Hoa Kinh dài hàng vạn chữ, rốt cuộc chỉ để nói rằng thiên hạ đại loạn vì mất đạo, mất đạo nên “không loài nào được yên với thực tình của tính mệnh” (bản dịch của Nhượng Tống). Nếu đọc kỹ kinh Phật, nghe sâu lời của Jesus, hay soi trong cốt tủy của mọi nhà hiền triết cổ kim, cũng sẽ quy về một mối ấy: Con người vì chấp mê vào lý trí và giác quan của mình mà không nghe được nhạc trời, không hiểu được chân tính bản thể, nên thay vì sống trọn vẹn với thể tính của mình (thiên đường) thì tồn tại quay cuồng trong đau khổ (địa ngục).

Như mọi dân tộc khác, Việt Nam cũng từng có những người con xuất chúng dấn thân đi tìm thể tính của dân tộc mình. Chỗ này cần nói rõ: thể tính khác với danh tính (identity) của dân tộc, lại càng khác với vấn đề độc lập, tự do của đất nước. Cho nên những cá nhân được nhắc đến trong sử sách thường chỉ là vua chúa quan tướng, những ngọn sóng ba đào của dòng chảy lịch sử, chứ ít ai chạm đến được những tầng sâu hơn của đại dương tính mệnh. Mà thể tính lại nằm ở tầng sâu xa nhất, là chỗ “không thể nghĩ bàn” mà triết gia cổ kim đều bất lực khi muốn nói về.

Không thể nghĩ bàn, nhưng lại rất hiển nhiên. Hamvas Béla cũng khẳng định việc này trong Minh Triết Thiêng Liêng: đạo lớn vốn rất dễ hiểu. Hãy thử đọc lại đoạn này của Nam Hoa Kinh:

“Con ngựa: móng có thể dày sương, tuyết; lông có thể chống gió, rét; gặm cỏ, uống nước, ghếch cẳng mà ở cạn; đó là chân tính của ngựa. Dù có đền cao, cung đẹp, nó có cần dùng chi! Kịp khi Bá Nhạc nói: “Tôi trị ngựa giỏi lắm!” Rồi đốt lông nó, cắt bờm nó, gạt móng nó, ràng đầu nó, buộc nó vào yên, cương; giam nó vào tàu, chuồng; thế là ngựa chết mười phần đến hai, ba rồi! Bắt nó đói; bắt nó khát; bắt nó quần; bắt nó chạy; bắt nó phải chỉnh tề. Đàng trước có cái nạn dàm, thiếc; mà đàng sau có cái oai roi, vọt. Thế là ngựa chết đã quá nửa rồi!”

“Chết quá nửa” tức là sống ngược lại với thể tính, đi xa khỏi đạo trời. Charles Eisentein, tác gia đương đại người Mỹ, nói rằng điều mà nhân loại đang chứng kiến hiện nay không phải là thể tính của nhân loại (nature of humanity), mà là sự chối bỏ thể tính của nhân loại (nature of humanity denied). Điều này nếu đọc lại Kẻ Phản Ki-tô của Nietzsche, “Chống Ki-tô” của Hamvas Béla, hay thông điệp nghìn năm trước của Trang Tử, sẽ thấy rõ đều là một vậy.

Quay lại Việt Nam: vậy ai là những người đã gọi tên thể tính Việt Nam từ những cội nguồn nguyên thủy của nó? Trước hết là những bậc tổ tiên đã dựng nên truyền thuyết, đã tạo nên tục ngữ, ca dao, đã sống trọn vẹn như hoa mọc lên từ đất và gọi tên chỗ họ mọc lên là “đất nước”. Rồi đến Nguyễn Du thăng hoa Việt ngữ trong Truyện Kiều. Rồi đến Phạm Duy thăng hoa Việt tính trong âm nhạc. Rồi đến Bùi Giáng làm thơ, như mưa nguồn chảy ra từ uyên nguyên sơ thủy:

“Hỏi rằng: người ở quê đâu
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng: từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân”

Chào Nguyên Xuân, Mưa Nguồn, Bùi Giáng, 1962

Phạm Công Thiện đã từng cố đi tìm thể tính của Việt Nam. Nhưng vì cố quá, cố theo lối Heidegger nghiêm túc lòng vòng mà quên đi cái rong chơi phiêu bồng, cái an nhiên nhẹ nhõm. Mà “phiêu bồng rớt hột” (chữ của Bùi Giáng) lại nằm ở cốt tuỷ của thể tính Việt Nam.

Nói thật dài, dẫn thật xa, đi một vòng cổ kim như vậy, rốt cuộc để kết lại điều gì? Rằng những ai còn chưa biết, hãy biết. Những ai biết rồi, hãy buông. Phàm đã sống trên mảnh đất phía Nam này, hoặc là hoàn toàn hồn nhiên thuần phác (mà hiện nay chắc chẳng còn ai như vậy, ngay chính trẻ con cũng bị phá hỏng từ đầu); hoặc là cần phải vượt (Việt) lên trên chính những hồn nhiên đã đánh mất của mình, để hồn nhiên trở lại (hồi thuần), để thể nhập vào đất-nước quê-hương.