Parasite: Ký Sinh Trùng hay Đại Hồng Thuỷ?

Trong lúc xem Parasite, những lời này của Hamvas Béla không tránh khỏi vang lên và ngân dài trong óc não:

“Trong con người vô thức nổi lên, trong xã hội, đám đông xuất hiện. Đây là một dạng di dân mới, là sự đột nhập thẳng thừng của sự tàn bạo. Tình thế không chỉ thay đổi từ bên ngoài; mà trạng thái tâm lý con người cũng bị đảo lộn cùng sự xua đuổi những cá nhân ưu tú và có vị thế cao hơn. Những gì đã từng ở trên, rơi xuống dưới, những gì từng ở dưới  giờ nổi lên trên. Vô thức lên trên và ý thức xuống dưới. Tri thức không ở trên, mà là bản năng, không phải ánh sáng, mà là sự tăm tối, không phải paradiso, mà là inferno, không phải thứ phát triển mà là thứ thấp kém, không phải trật tự và sự tử tế, mà là sự hỗn loạn và dục vọng. Không phải thứ tư duy có ý thức, mà là một  thứ cặn bã (reziduum) và thần tượng( mitosz). Bởi vậy trong sự chọn lựa, trong cách đánh giá các giá trị, trong thứ bậc và trong nhu cầu xuất hiện một trật tự đảo lộn.

Một tai họa giống như thế này chỉ xảy ra với con người khi nạn hồng thủy tràn ngập quả đất, và loài người chìm xuống biển. Nhưng lúc đó sự chết chìm này chỉ là bên ngoài, như nạn di dân cũng chỉ là bên ngoài: ngày nay con người chết chìm trong sự vô thức riêng của bản thân mình và của đám đông riêng của xã hội mình. Biển chính là sự vô thức, và sự vô thức chính là biển. Nạn hồng thủy chính là sự chết chìm trong cái vô thức. Ngày hôm nay chúng ta đang sống trong nạn hồng thủy từ bên trong.”

Đại hồng thủy đang nhấn chìm mọi thứ. Nhưng sẽ là vô ích, nếu mong đợi người Việt Nam có thể hiểu và miêu tả tình thế bi đát của chính họ, giống như người Hàn, hay các dân tộc có khả năng tự vấn khác, đang làm. Mặt tốt của vấn đề? Họ có thể sống nhẹ nhàng vui vẻ cho đến tận hơi thở cuối cùng.

Đừng!

Đừng đút tay vào ổ cắm!
Đừng uống nước bể bơi!
Đừng liếm con mèo!

Nếu bạn còn nhớ, thì bạn cũng lớn lên cùng với những câu lệnh tương tự như thế. Và nếu trí nhớ của bạn tốt hơn nữa, bạn sẽ nhớ rằng từ thuở ban sơ, đâu đó trên Thiên Đàng, ông cố tổ của chúng ta cũng đã được dặn rằng đừng ăn trái cấm. Đừng! Thế rồi chúng ta vẫn có mặt ở đây. Bảy tỉ rưỡi đứa. Đứa nào cũng lớn lên với những câu lệnh “đừng”.

Nhưng đừng là đừng thế nào? Chơi nhau à? Bày ra trước mắt rồi bảo đừng ăn, đừng chơi, đừng làm, đừng ghét, đừng yêu, đừng xây, đừng phá, thì quá bằng bảo đừng sống nữa? Thế thì đừng đẻ tôi ra? Đẻ tôi ra, tôi sống nhăn răng ra đây rồi thì cứ nhất định bảo đừng, tóm lại các người muốn gì?

“Chúng ta muốn ngươi được là chính ngươi.” – Họ nói.

“Thì tôi đang là chính tôi đây.” – Tôi nói.

“Nhưng đừng theo cách ấy.” – Họ nói.

“Ơ cái ĐKM*%&Ư$^*Ư&Ư&Ử@#@$.” – Tôi nói.

“Và đừng chửi bậy.” – Họ nói.

Làm sao để bớt buồn vào buổi tối

Đùa đấy. Làm gì được mà làm. Làm gì thì cũng chỉ để tránh, để che đi, để không phải cảm thấy. Nhưng cơn buồn đâu có đi đâu. Nó cứ lặng lẽ ở đó, và đợi.

Đợi mình nhận biết là nó tồn tại. Đợi mình cảm thấy nó, trò chuyện với nó. Đợi mình không vội, không sợ, không trốn tránh. Đợi mình thôi không còn coi nó là hiểm hoạ hay kẻ thù.

Đợi mình kiên nhẫn ở lại, một lúc thôi, một vài phút, một vài ngày, một vài kiếp, tất cả thời gian cần thiết, trước khi nó tan đi, theo cách giọt sương tan vào trong tia nắng ban mai.

Làm sao để bớt cô đơn vào buổi sáng

Mỗi sáng bạn thức dậy, ngầy ngật ngái ngủ, mệt mỏi nặng nề, bạn lê bước vào nhà vệ sinh, cảm thấy cô độc chán chường, phân ly tách biệt với thế giới.

Bạn đâu biết rằng, khoảnh khắc bạn đặt bờ mông của mình xuống bàn cầu, cũng là lúc bạn đang kết nối với 7 tỉ rưỡi bờ mông khác, không bờ nào giống hệt một bờ nào, đang làm cùng một công việc, qua một mạng lưới mênh mông của những bồn cầu và bể phốt, những đường ống và hầm chứa, những cầu tõm và bờ bãi hồn nhiên.

Cái mạng lưới ẩn mật ấy, lớn rộng hơn bất kỳ mạng xã hội nào, cần thiết hơn bất kể công nghệ tiên tiến nào khác, đang ngày đêm cần mẫn kiên trì kết nối chúng ta. Hãy nhớ lấy điều kỳ diệu ấy, mỗi khi bạn thấy cô đơn, nhất là những lúc đi cầu.

Endgame: nhìn từ Việt Nam

Bằng một phong thái đĩnh đạc, trên nền nhạc bi tráng hào hùng, Thanos từ từ đưa Găng Tay Vĩnh Cửu lên, trước khi búng tay kết thúc, thong thả đưa ra một kết luận đầy tính triết học-tâm linh:

Ta là… điều không thể tránh.

Nhưng có búng tay bao nhiêu thì vẫn chưa kết thúc, bởi toàn bộ đá Vĩnh Cửu đã chuyển sang một bàn tay khác. Đến lượt Tony Stark từ từ đưa tay mình lên, thủng thẳng buông một vế đối vô tiền khoáng hậu:

Ta là… Iron Man.

Đây là câu thoại hàm hỗn thênh thang nhứt trong lịch sử các câu thoại của Holywood. Bởi nó tóm gọn toàn bộ tinh thần, toàn bộ tâm thế, toàn bộ thái độ sống không phải chỉ của một Iron Man, không chỉ của đế chế điện ảnh tạo ra Vũ trụ Marvel, mà là thái độ chung của toàn bộ loài người, loài động vật mà người Mỹ tự trao cho mình cái quyền đại diện. Đó là thái độ tự phụ ngông cuồng của con người trước thiên nhiên, và ý chí gan bướng lỳ lợm của hắn trước vũ trụ. Hắn không màng gì mạng sống của chính mình đã đành, hắn cũng chẳng màng chi số phận hẩm hiu của hành tinh hay nhân loại (như hắn vẫn rất mực khăng khăng thuyết phục mình và người khác). Cái hắn quan tâm? Là chính hắn. Căn tính hắn, bản ngã hắn, sự thật của hắn: niềm tin của hắn vào cái mà hắn cho là đúng, là hay, là tốt đẹp. Dù có tiêu hủy đến hạt bụi cuối cùng trong vũ trụ, thì hắn vẫn phải khẳng định cho bằng được, tao đây, tao nè, tao đã đến đây và tao đã làm điều ấy đó, rồi sao?

Còn người Việt Nam? Người Việt Nam lũ lượt kéo nhau ra rạp, lũ lượt góp tiền cho Marvel tiếp tục mần thêm phim, và, búng nhẹ tay trước khi uống cốc trà sữa thứ ba trong ngày, người Việt Nam hềnh hệch mà rằng:

Ta là… cái đéo gì cũng được. Hihi.

Nhìn thẳng vào chính mình: đọc lại Thích Minh Châu mùa Phật Đản

Rước Phật qua cầu Tràng Tiền. Ảnh VNexpess.

Phật Đản là mùa lễ hội của những người theo đạo Phật. Đó là mùa mà toàn thể tăng ni Phật tử cùng hướng về, và tri tạ, một sự kiện diễn ra hơn hai mươi lăm thế kỷ trước: ngày đức Phật đản sanh (và đối với một số nhánh Phật giáo, cũng là ngày Ngài thành đạo và nhập diệt). Ở những thành phố có truyền thống tâm linh lâu đời như Huế, lễ hội lại càng huy hoàng và trọng thể. Hoa sen được đặt trên sông, được rước trên xe, được ôm trên ngực. Dưới cờ và hoa, trong tiếng chiêng trống và kinh cầu, giữa cái nóng 39 độ mùa hè, hàng ngàn người con thành tâm rước Phật.

Chẳng phải là con Ngài, cũng chưa định làm tu sĩ, chỉ với một tấm lòng yêu kính Đức Cồ Đàm, với đôi mắt tò mò đứng bên lề đường nhìn lễ hội Vesak, tôi bất giác tự hỏi: “Đức Phật à, có thực là họ đang rước Ngài không vậy?”

Và tôi nhớ, hơn bao giờ hết, những lời của Thượng Tọa Thích Minh Châu, đúng 50 năm về trước. Đó là năm 1970, chiến tranh đang lan rộng và leo thang, đau thương tang tóc đang xảy ra trên khắp cõi Việt Nam. Tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, ngài Viện trưởng đã dùng những lời dưới đây để chào mừng ngày Phật Đản:

“Chiến tranh càng ngày càng trở nên ác liệt, tất cả những đau khổ lớn nhất của nhân loại đã xảy ra tại quê hương  của chúng ta, và hôm nay, giữa lòng đau đớn khôn cùng của đất nước, đấng Thế Tôn lại ra đời, như một vì sao Mai vụt hiện trên vùng tối đen của mặt đất thê lương này.

Đấng Thế Tôn không phải chỉ ra đời cách đây mấy ngàn năm vào một thời gian ấn định, vào một địa điểm xác định nào đó. Không, Đấng Thế Tôn ra đời mỗi ngày và mỗi giây phút trong đời sống chúng ta: chúng ta là những kẻ đồng thời với Ngài, ra đời với Ngài, đau đớn với Ngài, sống với Ngài, lên đường với Ngài và cùng đi về với Ngài trên con đường giải thoátcon đường của vì sao Mai tuyệt đối, hình ảnh bất diệt của Chân Như: đó cũng là dấu hiệu của Pháp thân bất sinh bất diệt giữa sự phân thân bi thảm trầm trọng của quê hương chúng ta.

Giữa cơn biến động tàn khốc của đất nước hiện nay, mỗi người đều cảm thấy rằng mình phải lên tiếng, vì không lên tiếng là có tội lớn với hồn thiêng của quê cha đất tổ; người nào cũng thấy rằng mình phải nói đến Hoà Bình và Dân Tộc, nói đến Tôn Giáo và Dân Tộc, nói đến Trách Nhiệm và Dân Tộc.

Còn những danh từ cao đẹp thời thượng của năm 2019 là gì? Cách mạng 4.0? Đổi mới Sáng tạo? Biến đổi Khí hậu? Nữ quyền? Thuận Tự Nhiên? Hay những gì gì nữa?

Tất cả sự lên tiếng đều đáng tôn kính, tất cả những danh từ cao đẹp đều đáng tôn quí, nhưng thật sự thì đằng sau sự lên tiếng ấy, đằng sau những danh từ cao đẹp ấy chúng ta sẽ thấy được những gì?

Tất cả lời nói đều trở nên vô nghĩa. Bất cứ người nào đi giữa đường cũng có thể lên tiếng và cũng có thể dùng những danh từ cao đẹp… Ai cũng có thể nói được và dùng được những danh từ chìa khoá của thời thượng, những danh từ gợi cảm đầy dân tộc tính và nhân loại tính, nhưng tiếng súng đại bác và tiếng phản lực cơ vẫn ồn ào ấm ĩ và lấn át hết tất cả những khẩu hiệu cao đẹp trên đời này.

Chiến tranh càng ngày càng lan rộng, không phải vì thiếu người tranh đấu cho hoà bình… mà bởi vì đã có quá nhiều người tranh đấu cho hoà bìnhchúng tôi nói đến hoà bình, các ngài nói đến hoà bình; Phật giáo nói đến hoà bình, các tôn giáo khác đều nói đến hoà bình: Mỹ, Pháp, Anh, Tàu, Nga, Bắc Việt và Nam Việt đều nói đến hoà bình; tất cả chúng ta đều ca tụng hoà bình, mà đau đớn biết bao là càng nói nhiều đến hoà bình thì máu lửa ở Việt Nam càng trở nên ác liệt thảm khốc hơn nữa.

Nói như thế, không phải chúng tôi đề nghị chúng ta hãy nói nhiều đến chiến tranh hay là chúng ta hãy chấp nhận chiến tranh. Không phải thế. Không ai lại có thể tàn nhẫn lãnh đạm thờ ơ như vậy và chúng tôi cũng không thể nào có thái độ ngây thơ như vậy.

Chúng tôi chỉ muốn lễ độ báo nguy với tất cả rằng không phải chỉ lên tiếng, không phải chỉ dùng những khẩu hiệu tình cảm là đủ; không phải chỉ suốt ngày suốt đêm chạy Đông cầu Tây để hô hào bênh vực cho hoà bình là đủ; không phải chỉ nói đến tình thương là có tình thương, không phải chỉ nói đến Đạo Pháp và Dân Tộc là cứu nguy quê hương và Tôn Giáo, không phải chỉ nói về hoà bình là đem hoà bình về cho quê hương.

Khi nói như trên, chúng tôi cũng không phải ngây thơ đến nỗi đề nghị với các ngài là đừng lên tiếng và chỉ giữ im lặng thụ động. Không phải thế.

Chúng tôi chỉ muốn lễ độ báo nguy với tất cả chúng ta rằng không phải lời nói là quan trọng, không phải im lặng là quan trọng, mà cũng không phải hành động là quan trọng, mà không phải vô vi thụ động là quan trọng.

Chỉ có một điều duy nhất quan trọng, chỉ một điều quan trọng tối thượng là mỗi người phải dám nhìn thẳng vào bộ mặt thực của chính mình, tự hỏi rằng mình có lường gạt mình bằng những đường lối tinh vi; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự tự do trong tư tưởng; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự giải phóng khỏi tất cả sự sợ hãi trong ý thức và vô thức; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự tiêu trừ hết mọi tham vọng, dù là tham vọng tâm linh; có thực sự tiêu trừ hết mọi đố kỵ, thù hận; có thực sự tiêu trừ hết mọi sự triển khai bản ngã dưới mọi hình thức bằng cách lấp đầy sự trống rỗng của bản ngã bằng những ý niệm cao đẹp, bằng những khẩu hiệu mà ai cũng muốn dùng trên lưỡi và môi như là dân tộc, hoà bình, bác ái, từ bi, trách nhiệm vân vân?

Mỗi người đều chịu trách nhiệm cuộc phân hoá của quê hương hiện nay, mỗi người đều có tội, mỗi người đều đồng loã với sự tương tàn huynh đệ, máu đổ, nhà tan. Tất cả chúng ta đều đồng loã với cuộc chiến tranh này, dù tham chiến hay không tham chiến. Chúng ta đồng loã bằng cuộc sống nông cạn, bằng tình cảm yếu đuối, bằng thành kiến cố định, bằng sự bảo vệ bản ngã, bằng lý tưởng giả đạo đức, nhất là bằng tất cả sự sợ hãi, dưới đủ mọi hình thức.

Sợ hãi là cơn bệnh nặng nề nhất trong mỗi người; sợ hãi là mầm mống của tất cả mọi cuộc chiến tranh; vì sợ hãi nên phải lên tiếng, vì sợ hãi, nên phải im lặng; vì sợ hãi nên phải thụ động, trốn trong tháp ngà.”

5 năm sau khi những lời này được nói ra, chiến tranh chấm dứt. Nhưng nó có chấm dứt thật hay không? Thích Minh Châu khẳng định:

“Chiến tranh nay mai sẽ chấm dứt, nhưng sự nô lệ của con người không hẳn là mất đi, khi hoà bình đến, sự nô lệ này càng hiện lên rõ rệt hơn nữa, vì chỉ có một sự nô lệ đáng sợ là sự nô lệ của tinh thần và tư tưởng, còn tất cả sự nô lệ khác chỉ có tính cách phụ thuộc.”

Sự nô lệ ấy ở đâu ra, và cần phải làm gì?

Tất cả những sự sụp đổ hiện nay, tất cả cơn khủng hoảng hiện nay đều xuất phát từ sự nô lệ tâm thức của cá thể. Chiến tranh xuất phát từ sự mâu thuẫn nội tại của cá thể; cơn bệnh của tập thể phát xuất từ ý thức phân tán của cá thể. Chủ nghĩa quốc gia, cũng như chủ nghĩa quốc tế, không giải quyết được sự mâu thuẫn của ý thức con người; tất cả những ý thức hệ cũng đều thất bại, vì ý thức hệ trở thành quan trọng hơn con người; con người bị nô lệ vào ý thức hệ gây ra những mầm mống phân ly với nhau và hy sinh cho một tương lai ảo tưởng mà bỏ quên hiện tại sống động. Tín điều và tín ngưỡng của tôn giáo cũng gây mầm mống chia rẽ trong con người. Tất cả những cuộc cách mạng lịch sử đều thất bại, vì những cuộc cách mạng ấy đã xây dựng trên những tương quan sai lầm bất động giữa cá thể và tập thể, giữa tư thể và xã hội. Chỉ có một cuộc cách mạng quan trọng và có ý nghĩa, đó là cuộc cách mạng nội tâm của cá thể sáng tạo. Cách mạng nội tâm là cuộc cách mạng của ý thức, của tư tưởng toàn diện trong con người.

50 năm sau, điều quan trọng ấy đã được làm đến đâu rồi? Bao nhiêu người còn ý thức về tình thế mà mình đang ở trong, ngay giữa trạng thái được gọi là hòa bình? Bao nhiêu người thực sự hiểu điều họ đang làm, điều họ đang nói, điều họ gọi là “ngàn năm văn hiến” hay “văn hóa Việt Nam”?

“Thực tính mấy ngàn văn văn hiến ấy là gì? Thực tính của Việt Tính là gì? Nói khác đi, căn nguyên của tinh thần Việt Nam là gì? Nghĩa là cái gì đã làm con người Việt Nam phải đến tình thế lịch sử hiện nay? Cái gì đã làm hai chữ Việt Nam có mặt và đang có mặt một cách đẫm máu trên mặt trái đất hiện nay? Và cái gì sẽ đưa Việt Nam đi đến trong tương lai – đi về tinh túy của quê hương hay đi về sự vong quốc, mất mọi gốc rễ, xa lìa nguồn gốc của đất mẹ? Hiểu được cái gì ấy đã nuôi dưỡng tinh thần dân Việt từ mấy ngàn năm nay, hiểu được cái ấy là tìm ra được thực tính, thực chất, bản tính, bản chất của Việt Nam, sự hiện diện của Việt Nam trong văn hóa Đông Phương và sự đối diện của Việt Nam với văn hóa Tây Phương. Hậu quả của sự hiện diện ấy là hiện trạng của con người Việt Nam bây giờ, một hiện trạng thê thảm được thể hiện qua ý thức về sự đánh mất thực tính của Việt Nam đồng một nhịp với sự đánh mất thực tính của Đông phương, song hành với sự đánh mất thực tính của Tây phương trong sự khủng hoảng của nền văn minh Tây Phương hiện đại. Sự khủng hoảng này đã tìm được mảnh đất Việt Nam để phát hình một cách ngoạn mục bi đát qua trận chiến tranh Việt Nam vì Việt Nam là mảnh đất mà con người đã trải qua kinh nghiệm tang thương nhất về sự mâu thuẫn cao độ giữa sự hiện diện và sự đối diện, giữa sự đánh mất về tự tính và sự đánh mất về tha tính, giữa sự khủng hoảng của những giá trị Đông Phương và những giá trị Tây Phương. 

Sự khủng hoảng ấy phát ra từ sự tàn phế suy liệt trong tinh thần Việt Nam, từ sự tiêu tán suy nhược của sinh lực Việt Nam: cơ thể Việt Nam đã mất sinh lực trong chính tự thân và chính sự mất sinh lực nội tại ấy đã là nơi đón rước con vi trùng nguy hiểm nhất ở thời hiện đại, đó là tinh thần hư vô (nihilisme) lan tràn khắp thế giới hiện nay. Chủ nghĩa hư vô là hậu quả của sự mất sinh khí trong tất cả mọi giá trị của nhân loại từ trước cho đến bây giờ và chính chủ nghĩa hư vô ấy đã đưa đến trận chiến tranh ác liệt ở Việt Nam từ mấy chục năm nay: và con người nhất là con người Việt Nam càng lúc lại càng không biết mình là ai, mình đang ở đâu, mình sẽ ra sao, vì tất cả mọi sự đã đảo lộn, tất cả mọi giá trị thiêng liêng đã đổ ngã, và ý thức của Việt Nam, càng lúc càng rã rời phân tán, và con người đang là “con người Việt Nam”, bỗng một sớm thấy mình hóa thân thành một con vật sợ hãi, con thú bị săn đuổi, sợ hãi tất cả mọi sự, run rẩy khắp toàn thân vì biết rằng mình có thể chết bất cứ lúc nào, không phải chỉ nơi trận địa mà ngay tại nhà mình, con thú sợ hãi ấy càng lúc càng sợ bâng quơ, càng lúc càng co rúm lại, vì sợ hãi làm cho người ta co rút lại, càng co rút lại thì mình càng nhỏ bé dần đến lúc nhỏ lại gần như một đồ vật, một gói, một trái banh tròn, của con người mà ai muốn đá đi đâu cũng được; tự chủ biến nghĩa đi và trở thành tự vệ, và sau cùng tự vệ biến nghĩa đi và trở thành tự động hay thụ động; con người biến thành con vật và con vật biến thành đồ vật rồi đồ vật biến thành cái máy, một thứ máy móc tự động.

Con người thì thảm thương như thế, nhưng còn sản phẩm tinh thần của con người? Sản phẩm tinh thần của con người trở nên một guồng máy được tổ chức một cách tinh vi tối tân; guồng máy to lớn ấy để ra những cái máy nhỏ, gọi là những con người máy; những đại học đường trở nên những lò đúc, mỗi năm cố gắng tạo ra thực nhiều những con người máy, mang tên là kỹ sư; bác sĩ, chuyên viên, ký giả, học giả v.v…. mỗi năm, từng lớp sinh viên ra đời; mang một nhãn hiệu đẹp đẽ, một chức tước cao trọng, để rồi không biết mình sống để làm gì trong một thế giới mà càng lúc con người càng vắng mặt. Càng lúc những đồ vật càng nhiều, và giá trị của đồ vật trở thành tiêu chuẩn để đánh giá con người. Con người lại trở nên một đồ vật giữa những đồ vật, văn hóa trở thành những trang điểm phấn son, làm đẹp một nét mặt khô chết. 

Đã từng có một thời như thế, nơi trái tim của tâm linh Việt Nam, điểm hội tụ của minh triết Việt Nam, những lời lẽ của trí huệ và từ bi được ấm nóng đanh thép tỏa ra như thế. Những lời này không chỉ nên được đọc mỗi 50 năm một lần, hay mỗi mùa Phật Đản. Hơn bao giờ hết, những câu hỏi đau đáu và những lời gửi gắm thiết tha ngài Viện trưởng để lại cho chúng ta, cần được đọc lại, cần được thể nhập và cần được hành động, trong từng hơi thở hôm nay:

“Đức Phật đã cứu chúng ta, bây giờ đến lượt chúng ta hãy cứu lấy Đức Phật. Làm sao làm sống lại Chân Lý? Làm sao cho niềm tin tôn giáo thôi còn là một món trang hoàng cho đời sống trí thức hay tệ hơn cho sinh hoạt cảm tình của con người, mà trái lại, phải trở thành nhịp thở của tim, thành máu lưu thông trong huyết quản, thành chính sự sống? Làm sao cho sống lại nụ cười hai ngàn năm trăm năm trước của đức Từ Phụ, nụ cười của Từ, Bi, Hỉ, Xả, để xóa tan vết hằn trên mặt thế giới đau thương? Việt Nam rách nát của chúng ta và cả nhân loại hiện nay, đang héo mòn trông đợi nụ cười ấy, nụ cười của Thế Tôn ngày Thành Đạo.”


Toàn bộ các trích đoạn trong bài đều trích từ tập sách “Trước sự nô lệ của con người – Con đường thử thách của văn hóa Việt Nam” – TT Thích Minh Châu – Nha Tu Thư và Sưu Khảo, Viện Đại Học Vạn Hạnh 1970. Bản điện tử chép từ Thư Viện Hoa Sen, có chỉnh sửa một vài lỗi typo.

Khổ, Đau và Trung Thực

KHỔ

Chúng ta quá quy hướng vào chính ta. Ta sống trong vỏ ốc của tự ngã, ngày càng lớn theo ta, cơ hồ không lột bỏ được. Dường như ta mang nó theo suốt đời, từ tấm bé đến ngày nhắm mắt. Tuy nhiên, thiên nhiên vẫn hiến cho ta nhiều cơ hội đập vỏ bước ra, và cơ hội đầu tiên, thuận tiện nhất, là khi ta bước vào thời hoa niên. Đó là lần đầu tiên cái tôi của ta thoạt biết có “người khác”. Tôi muốn nói đến sự thức tỉnh của dục tình. Một cái tôi, tưởng là toàn nguyên, là bất khả phân, giờ đây như tự chẻ đôi ra. Tình yêu bấy lâu ngủ say trong đáy tim vươn mình lên, và gây bạo động. Vì đây là lúc vừa dấy lên, tình yêu đòi hỏi ngay, cùng một lúc, vừa xác định cái tôi, vừa trừ bỏ cái tôi. Tình yêu khiến cái tôi tự mất đi trong đối tượng nó yêu, nhưng đồng thời cũng đòi quyền chiếm hữu đối tượng ấy. Thật là mâu thuẫn, và chính mâu thuẫn ấy là một đại bi kịch của nhân sinh. Cảm giác căn bản ấy có lẽ là nguyên động lực thúc giục loài người hướng thượng. Thượng Đế ban khổ cho con người để hoàn tất con người.” – D. T. Suzuki, Thiền Luận, Trúc Thiên dịch


ĐAU

Bạn có thể thử kháng cự và bảo vệ mình khỏi sự đau. Và bạn có thể thành công ở một chừng mực nào đó. Nếu bạn nỗ lực hết mình, bạn thậm chí có thể ngăn chặn nỗi đau, không cho nó được cảm thấy. Nhưng rồi bạn sẽ không bao giờ nhận ra, bất hạnh thực sự chính là việc không cho phép nỗi đau chạm vào mình. Nỗi đau ở đó cho bạn, không phải để chống lại hay hành hạ bạn.


TRUNG THỰC

Để tôi nói với bạn tại sao bạn nên trung thực. Bởi vì bạn không thể lừa dối. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối suy nghĩ của bạn, bạn cũng không thể lừa dối cảm xúc của bạn. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối cảm xúc của bạn, bạn cũng không thể lừa dối cơ thể của bạn. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối cơ thể của bạn, bạn cũng không thể lừa dối tinh thể (being/spirit) của bạn. Vì tinh thể của bạn luôn luôn biết cái gì là thật và cái gì là giả. Và nếu bạn cứ cố gắng tiếp tục lừa dối bản thể của mình (thường thì vì bạn quá sợ đau, sợ khổ), nó sẽ giống như là tự tử: bạn đang phá hủy chính mình. Cho nên để sống trọn vẹn, sống cho ra sống, chỉ còn một cách trung thực mà thôi.