Cái chết của loài Ong

Hôm nay anh đọc một bài báo về việc các loài côn trùng đang lặng lẽ biến mất. Anh bỗng thần người ra, nhớ về những lần bị ong đốt hồi nhỏ (thường là lúc đang phá tổ ong), những khi ngồi nhìn đàn kiến di chuyển hàng tiếng đồng hồ (thường là trước khi chọc tổ kiến), những lúc thức khuya rủ nhau đi xem ve sầu lột xác (rồi thử kéo con ve non ra khỏi vỏ để đến nỗi cánh nó bị cháy và không bay được nữa). Rồi những châu chấu cào cào bị bắt làm mồi câu cá, những dế mèn bị bắt đá nhau, những cánh cam, bọ rùa, bọ xít, bọ hung, bươm bướm, chuồn chuồn… cả một thế giới côn trùng xinh đẹp và bí ẩn, vừa là đối tượng để chiêm ngắm, vừa là nạn nhân của sự dã man vô thức của đám trẻ nít bọn anh.

Anh không biết mình đã góp bao nhiêu phần trong số 80-90% các loài côn trùng đã biến mất khỏi bề mặt trái đất trong 20 năm qua. Dù chỉ là một phần tỉ tỉ, thì anh cũng đã góp phần vào đó. Mà đó chỉ mới là những gì anh nhìn thấy, anh nhớ về, anh ý thức được. Phần lớn hệ quả từ hành động của anh hàng ngày, anh hoàn toàn không hay biết. Anh cứ sống, và những con ong cứ chết.

Điều đó sẽ chẳng can hệ gì nếu anh không nhớ và không buồn. Nhưng cảm xúc tự đến: Tự Nhiên không cho phép anh trốn chạy. Chúng thúc giục anh ngước nhìn lên tán cây từ cửa sổ một quán quen, chúng cho anh chút mừng vui khi nhìn thấy bầy ong vàng đang hăng say làm việc – loại niềm vui nghẹn ngào khó tả như gặp lại một người bạn thiết đã quá lâu không gặp – để rồi, gần như ngay lập tức, chúng nhúng anh vào một nỗi buồn sâu thẳm, rằng đây rất có thể là một trong những tổ ong cuối cùng mà anh được nhìn ngắm, rằng sau này, kể cả khi anh muốn được ong đốt (chứ không phải bị), thì cũng không còn ai ở đó để mà đốt anh.

Chúng ghim vào tim anh một cú đau nhói để cho anh nhớ, bởi vì, dù anh không còn quá ngu nhưng lại có một trí nhớ quá tồi: cái chết của ong cũng chính là cái chết của anh.

Lời nguyện cầu cho những người phản kháng

Chính phủ ban hành một vài dự luật. Nhiều người xuống đường biểu tình phản đối các dự luật đó. Nhiều người không xuống đường nhưng theo dõi sát sao việc xuống đường. Nhiều người phản đối, thậm chí mỉa mai việc xuống đường. Nhiều người phản đối những người phản đối. 

Những dòng tiếp theo đây không liên quan gì đến tất cả những nhóm người trên. Hoặc nếu có, thì liên quan ở một khoảng cách đủ xa để không dính líu gì đến lựa chọn và thái độ của họ. Đây chỉ là vài suy tưởng vụn của cá nhân tôi khi quan sát những điều đang diễn ra.

Tôi đã nghĩ nhiều về sự phản kháng từ khi còn là một cậu học sinh cấp 3 chán chường và cô độc. Và tôi bắt đầu phản kháng từ khi trở thành sinh viên đại học. Từ đó đến nay đã gần 20 năm, không một ngày nào tôi không phải là một kẻ phản kháng.

“Mỗi một hành động phản kháng đều biểu đạt một nỗi hoài niệm về sự hồn nhiên và là một lời thỉnh cầu hướng tới điều cốt lõi của đời sống. (Every act of rebellion expresses a nostalgia for innocence and an appeal to the essence of being.)

– Albert Camus

Là một kẻ phản kháng, tôi đặt câu hỏi về mọi thứ có ý định áp đặt luật lệ/khuôn khổ/định hướng lên tôi: gia đình, nhà trường, xã hội, luật pháp, chính phủ, người yêu, bạn bè, đồng nghiệp, hay một người xa lạ bất kỳ. Tôi đã bỏ ra một khối năng lượng khổng lồ để có thể ngày càng trở nên độc lập hơn với tất cả những điều đó. Mục tiêu tối thượng của tôi, và cũng là điều tôi thực hành mỗi ngày, là không một ai, hay bất kỳ thể chế nào, trong bất kỳ tình huống nào, có thể chi phối hay điều khiển mình. 

Lúc đầu tôi không biết mình phản kháng để làm gì. Tôi chỉ khó chịu, cáu bẳn và tức giận, với mọi thứ và hầu hết mọi người. Nhưng dần dần thái độ đó làm tôi trở nên kiệt sức và chai lì cảm xúc. Quan trọng hơn, tôi không muốn mình rơi vào trạng thái phản xạ tự động: phản kháng bất kỳ điều gì mà mình cho là không đúng. Tôi ngày càng ý thức hơn về hiểu biết hạn hẹp của mình: những điều tôi cho là không đúng cũng có thể đúng lắm chứ. 

Qua thời gian, mong muốn được đúng của tôi vẫn còn y nguyên, và là nguyên động lực giúp tôi ngày càng đến gần sự thật. Nhưng mong muốn chứng minh/khẳng định người khác sai trong tôi đã giảm đi theo năm tháng. Cho đến bây giờ, tôi đã đi đến chỗ hiểu rằng mỗi người, ở một thời điểm nhất định, trước một sự việc nhất định, đều đúng theo góc nhìn của mình, và lựa chọn hành động trong giới hạn nhận thức của mình.

Một người phản kháng là kẻ yêu cuộc đời này sâu sắc và thực sự quan tâm đến những gì đang vận hành ở tận trung tâm của đời sống này. Kẻ đó, bằng sự kiên nhẫn và dũng cảm thực hành phản kháng, sớm muộn sẽ biết cách lùi xa khỏi những cơn sóng không ngơi nghỉ trên mặt nước, để tập trung hơn vào những gì nằm ở cốt lõi ở những tầng sâu hơn. Vẫn là Camus:

“Sự phản kháng không thể tồn tại mà không có một kiểu tình yêu kỳ lạ” (Rebellion cannot exist without a strange form of love.)

Và ở một trong những tầng sâu đó, tôi khám phá ra Niềm vui và Cái đẹp. Tôi nhận ra rằng, ngày nào mà tôi sống vui và sống đẹp, ngày đó tôi đang thực hành phản kháng triệt để. 2500 năm trước, sống giữa thời loạn Xuân Thu và Chiến Quốc, Trang Tử đã chọn cách sống đó. 2500 năm sau, trong một thế giới “hiện đại” với hệ thống kinh tế-xã hội toàn cầu được thiết kế tinh vi bởi các nhóm lợi ích chóp bu (Các Tập đoàn Lớn, Chính phủ Lớn) để con người ngày càng đau khổ hơn, tức giận hơn, bất lực hơn và xấu xí hơn (trong khi vẫn liên tục được rao giảng và hứa hẹn về niềm vui và cái đẹp), câu trả lời vẫn không thay đổi: Người sống hạnh phúc là kẻ phản kháng trọn vẹn nhất. Và việc sống hạnh phúc của người đó, dù vô ngôn, trở thành một lời nguyện cầu chân thực nhất, mạnh mẽ nhất, hiến dâng cho đời sống diệu kỳ này. 

Đến đây, một lần nữa, tôi lại nhớ Camus – ông đã viết quá hay điều tôi định giãi bày:

“Cái Đẹp, hẳn rồi, chẳng làm nên được cuộc cách mạng nào. Nhưng sẽ đến một ngày mà những cuộc cách mạng sẽ phải cần đến cái đẹp.” (Beauty, no doubt, does not make revolutions. But a day will come when revolutions will have need of beauty.)

dòng tôi đang chảy

Lâu rồi tôi không ngừng lại để quan sát chính mình. Hay nói đúng hơn, việc quan sát chính mình của tôi đã trở thành thói quen ăn sâu đến mức, giống như việc thở, tự động diễn ra bất kể tôi có ngừng lại hay không. Lâu rồi tôi không ngừng lại xem tôi đang thở thế nào.

Tôi biết mình đang dịch chuyển. “Dịch” là một từ có nội hàm sâu xa và rộng lớn, đến mức từ cổ xưa đã có hẳn một pho Kinh Dịch ẩn tàng nhiều lớp quặng tri trức mà con người ngày nay vẫn còn đang miệt mài khai quật. Minh triết cổ và vật lý hiện đại đã đi đến chỗ đồng quy: vũ trụ vốn rỗng không, cái Không dịch chuyển mà thành ra các hạt, các hạt dịch chuyển mà thành ra vật chất. Suy nghĩ là dịch chuyển thông tin. Cảm nhận là dịch chuyển năng lượng. Sinh sản là dịch chuyển nguồn gen. Một nốt nhạc vang lên. Rồi vang lên lần nữa. Nhưng mọi chuyện đã đổi thay.

Tôi cũng đổi thay. Ngày càng nhanh và nhiều đến mức khó mà nắm bắt và liệt kê hết được. Bất cứ lúc nào tôi muốn định nghĩa chính mình, tôi buộc phải làm đông cứng dòng chảy, cắt ra một lát nhỏ, quan sát và miêu tả lát cắt đó, hòng làm rõ một vài thuộc tính, một số đặc điểm. Nhưng chừng nào tôi còn sống, chừng nào dòng chảy tiếp tục chảy trôi, thì chẳng mấy chốc mà các đặc điểm hay thuộc tính đó sẽ không còn ở đó nữa.

Borges viết: “Thực ra tôi không chắc là tôi tồn tại. Tôi là mọi nhà văn tôi đã đọc, mọi con người tôi đã gặp, mọi phụ nữ mà tôi đã yêu, mọi thành phố tôi đã đến.” Tôi là mọi thứ, đồng thời cũng không là gì. Tôi là sự dịch chuyển, là sự tổng hòa, là sự tương hợp của triệu triệu cơ duyên. Việc định nghĩa tôi là ai liệu có chút nào quan trọng trong dòng chảy miên viễn ấy?

“Tôi không có quy lệ thường ngày và lịch sử cá nhân. Đến một ngày tôi nhận ra chúng chẳng còn cần cho tôi nữa và, cũng giống như rượu, tôi bỏ chúng. Người ta nên có mong muốn bỏ chúng đi và nên bắt đầu bỏ chúng từng chút một, một cách nhẹ nhàng. Nếu bạn không có lịch sử cá nhân, sẽ chẳng có gì phải giải thích; không ai tức giận hay vỡ mộng về hành vi của bạn. Và hơn hết thảy không ai đóng khung bạn bằng suy nghĩ của họ. Tốt nhất là nên xóa hết lịch sử cá nhân, vì điều đó giúp chúng ta được tự do khỏi bao nhiêu suy tưởng ngổn ngang của người khác. Một cách từ từ, tôi đã tạo ra một lớp sương mờ xung quanh mình và cuộc đời của mình. Và không ai thực sự biết tôi là ai hay tôi làm gì. Kể cả tôi. Làm sao tôi biết được tôi là ai, nếu tôi là tất cả những điều này?”

Tôi thực sự đồng cảm với đoạn viết trên của Carlos Castaneda. Hôm nay tôi ngồi đọc hàng trăm câu trả lời từ một form câu hỏi mà tôi đã ngẫu hứng tạo ra. Tôi nhận ra mình hồi đó. Tôi thấy mình bây giờ. Tôi gặp mình trong suy nghĩ, trong sợ hãi, trong niềm tin của người khác. Dù họ kể về họ hay về tôi, dù là một ý nghĩ thoáng qua hay là cả một bầu tâm sự tràn trề, dù là những mảng màu sáng trong hay u tối, tôi đều nhận ra các mảnh ghép của mình. Chúng ta đều là các mảnh ghép của nhau. Chúng ta là từng sợi tơ đan vào nhau dệt nên tấm lụa đời sống. Chúng ta là muôn vạn hình thái của nước: sương sớm, mưa rào, băng tuyết, suối, sông, mạch ngầm, thác đổ… để rồi tất cả đều chảy về đại dương.

“Tôi nghĩ về tôi như là một kẻ mãi mãi kỳ quặc, một linh hồn cô đơn, một gã lang thang, một nghệ sĩ quay quắt không ngơi nghỉ, một người đang trong tình yêu với tình yêu, luôn luôn trên đường tìm kiếm cái tuyệt đối, luôn luôn theo đuổi những điều không thể đạt được.” – Chẳng phải vì chúng ta tương thông nối kết, mà Henry Miller đã có thể viết đoạn trên về ông chân thành và chuẩn xác y như viết về tôi, hay về bất kỳ ai đang đọc những dòng này, đó sao?

Sách và Người

Một bìa sách Mưa vẽ, 2010.

Sách có nhiều điểm giống người. Tiếng nói của sách là âm thanh vang vọng của cuộc đời một con người. Duyên gặp một cuốn sách hay cũng giống như duyên gặp một người bạn quý. Không phải cứ mua là được, đọc là được. Mà phải đầy đủ điều kiện tinh thần, khi dòng chảy cuộc sống đặt mình vào đúng vị trí đó, cầm đúng cuốn sách đó, để đúng những dòng chữ đó cộng hưởng với lòng mình ở đúng thời điểm đó trong một mối giao cảm thân thương không gì khác làm được. Đó mới là “gặp” một cuốn sách.

Sách cũng có nhiều điểm khác người. Mình có thể yêu quý nâng niu sách, rồi bỏ đi một mạch vài năm sau trở lại, sách vẫn không nề hà. Nhưng sách cũng chẳng lớn lên. Nếu vài năm sau mình đã trưởng thành hơn so với lúc mình yêu sách, thì sách trở nên nhạt nhẽo, tầm thường, vô vị. Tất nhiên, sách cũng không lấy đó làm điều. Sách lại lặng lẽ đi tìm những người đang lớn khác. Lại có những sách đợi mình lớn lên, đợi mình thấy cái hay mà lúc vội vàng mình chưa thấy. Dù sao mặc lòng, lúc nào sách cũng tĩnh lặng hơn, và kiên nhẫn hơn.

Sách rất trung thực, như một tấm gương trong vắt. Sách cho thấy ai là người kỹ lưỡng, chỉn chu. Ai khác hời hợt, nhạt nhẽo. Ai khác giả dối, xu nịnh. Ai chắt từng giọt máu của mình lên trang giấy, ai copy-paste chỉ để làm tác giả. Ai tự do, ai sợ hãi, ai tức giận, ai an nhiên. Vàng thau lẫn lộn, như người. Nhưng cũng như người, quan sát đủ, thì thấy rõ.

Như một con người đã hoàn toàn là bản thân mình, một cuốn sách độc đáo trọn vẹn rất khó để phân loại. Đặt “Hoàng Tử Bé” vào đâu đây, sách thiếu nhi hay người lớn, sách triết hay sách văn? Đặt sách Bùi Giáng vào đâu đây, thơ hay văn, tôn giáo hay triết học, cổ điển hay hiện đại, Đông Phương hay Tây Phương? Ngược lại, những cuốn sách dễ dàng để lọt vào trong một thể loại, thường chỉ là một mảnh vụn, một sự quy thuận và chia tách, không chỉ cho dễ đọc, mà còn trong chính cách sống của người viết nữa.

Phân loại sách có lẽ cũng như phân loại người, không nên theo trình độ, theo đề tài, theo độ hiểu biết, theo độ nổi tiếng, mà chỉ nên theo đúng một tiêu chí thôi: sức sống. Có những trang sách nơi dòng chữ chảy trôi phập phồng những nhịp đập nóng hổi, và những trang sách nơi chữ nằm chết đứ đừ, bốc lên một thứ mùi mốc meo lưu cữu, hoặc uốn éo màu mè những tấm mặt nạ rẻ tiền, cố gắng che đậy sự trống rỗng chết chóc.

Nhân nói chuyện thể loại, thì không hề có “fiction” với “non-fiction”. Hầu hết sách đều là hư cấu cả. Lịch sử: hư cấu. Khoa học: hư cấu. Tôn giáo: hư cấu. Rất hiếm những cuốn sách chân thực nhất và minh triết, những cuốn sách nói về SỰ THẬT. Làm sao để tìm những cuốn sách đó, lại phải tùy duyên.

Người phụ nữ mạnh nhất

Một cảnh trong Phantom Thread (2017)

Ai là người phụ nữ mạnh mẽ nhất trên màn ảnh 2017-2018? Wonder Woman là một nữ siêu anh hùng xinh đẹp dựng lên để kéo người ta đến rạp. Bà mẹ trong Three Billboards là một người mẹ mất con tuyệt vọng và gan lì. Lady Bird là một cô bé mới lớn và một nữ đạo diễn mới nhú. Cô gái trong Shape of Water là một kẻ cô đơn phát hiện ra mình thích làm tình với người cá. Mother! có nhắc đến hình tượng người mẹ lớn – Mẹ Tự Nhiên – nhưng người mẹ này bị chồng con hành hạ cho lên bờ xuống ruộng.

Chỉ sót lại một người phụ nữ siêu quyền lực: Alma trong Phantom Thread. Cô là người vợ duy nhất có khả năng nhìn thẳng vào mắt chồng mình, đẩy dĩa trứng trộn với nấm độc cô đã tự tay chuẩn bị đến trước mặt ông ta, và nói một cách bình thản:

“Em muốn anh phải nằm dài ra. Bất lực, yếu ớt, mở phơi… và chỉ duy nhất một mình em mới có thể giúp anh. Sau đó em muốn anh mạnh mẽ trở lại. Anh sẽ không chết. Anh có thể ước rằng mình chết đi cho xong, nhưng anh sẽ không chết. Anh chỉ chậm lại một chút thôi.”

Để đáp lại, người chồng, vừa nhìn cô dịu dàng vừa từ tốn ăn hết dĩa trứng, rồi vươn người về phía cô:

“Hôn anh đi, cô gái của anh, trước khi anh ngộ độc.”

Đó là loại quyền lực ghê gớm mà một người phụ nữ sở hữu: tình yêu, sự dịu dàng, sự quả quyết, và quyến-rũ-không-gì-cưỡng-nổi.

call me by your name

Nếu tôi là một gã choai 17 tuổi, tôi sống ở một biệt thự mùa hè ở miền Bắc nước Ý, tôi biết tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ý, tôi thích đọc sách một mình bên bờ suối vắng, tôi biết đàn piano một bản nhạc của Bach theo 3 phiên bản khác nhau, hàng ngày tôi cùng gia đình ăn uống ở ngoài hiên nắng vàng, uống nước hoa quả hái từ vườn, ăn cá bắt từ sông, được phục vụ bởi hai người gia nhân già tận tụy, thi thoảng tôi theo ba tôi là giáo sư khảo cổ đi trục vớt những bức tượng cổ từ dưới biển, cùng đi có cả anh phụ tá nghiên cứu điển trai của ba tôi, rồi những tối trời mưa mẹ tôi đọc sách cổ bằng tiếng Đức rồi dịch ra tiếng Anh cho tôi nghe, rồi mẹ lại nói chuyện với tôi bằng tiếng Pháp, ngầm khuyến khích tôi hãy tỏ tình với anh ấy đi, rồi tôi lại được một cô gái trẻ đẹp thông minh đến từ Paris đem lòng yêu mến, buổi tối chúng tôi khiêu vũ, buổi đêm chúng tôi bơi ở sông, buổi trưa chúng tôi làm tình với nhau trên gác xép, rồi đêm đến tôi lại hẹn hò với anh phụ tá… Đấy, nếu tôi ở trong tất cả những điều kiện như thế, tình huống như thế, thì tôi hỏi bạn, tôi không gay thì để làm gì cho nó phí đời tôi? Và nếu tôi có là bi-sexual, là pansexual, là bất cứ của nợ gì sexual thì cũng được tuốt, bởi vì sống một cuộc sống NHƯ THẾ mà không get sexual rồi fuck nhau thì tôi hỏi bạn còn việc gì đáng làm hơn để hưởng thụ cuộc đời nữa hay không hả, hả?

Three Billboards Outside Ebbing, Missouri

Một bà mẹ có con gái tuổi teen bị hiếp và giết bằng cách đốt cháy. Hơn nửa năm trời, bà không nhận được bất cứ thông tin nào hoặc thấy động thái gì từ phía cảnh sát trong việc truy tìm hung thủ. Bà quyết định thuê 3 tấm biển quảng cáo lớn chạy 3 dòng chữ:

“RAPED WHILE DYING”

“AND STILL NO ARRESTS?”

“HOW COME, CHIEF WILLOUGHBY?”

Willoughby là tên cảnh sát trưởng của hạt Ebbing, bang Missouri, một địa điểm hư cấu, nơi câu chuyện diễn ra, và cũng là người mà bà mẹ cho rằng cần phải chịu trách nhiệm trong việc đòi lại công lý cho bà.

Nhưng biết đòi công lý ở đâu? Tất cả mọi người, bao gồm người mẹ đau đớn và giận dữ, vị cảnh sát trưởng bất lực, gã cảnh sát viên ngớ ngẩn đầy cảm tính, em trai đau khổ và người cha bệnh hoạn của nạn nhân, nha sĩ béo, cha cố béo, và mọi người khác trong làng… không một ai biết công lý ở đâu, và, quan trọng hơn cả, tùy vào trải nghiệm sống mà mỗi người đều có một định nghĩa riêng, một khái niệm riêng về công lý. Và cái gọi là hệ thống công lý hiện hành thì lộ rõ sự bất lực trong việc hàn gắn sự đứt gãy chia tách này, lại càng không có cách nào ngăn cản được hậu quả bạo lực của nó. Tất cả cuộn xoáy vào nhau như một cơn bão dữ dội khủng khiếp.

Giữa bão tố mịt mùng ấy, vẫn luôn có những tia sáng le lói của sự tử tế, của lòng vị tha, của sự chân thật. Sự chân thật là đặc tính nổi bật và mạnh mẽ nhất của bộ phim này. Nó phản kháng, nó nổi dậy, nó lột trần mọi thứ kinh tởm đằng sau sự đèm đẹp và ngái ngủ của thế giới nơi chúng ta đang sống. Nó đòi hỏi chúng ta phải nhìn vượt lên, nhìn sâu hơn, để thấy không chỉ một tội ác đơn lẻ ở một vùng quê nước Mỹ. Nó tuyên bố chính thế giới xinh đẹp này mới là thứ đang bị cưỡng hiếp trong lúc đang chết dần. Nó chính là tấm biển quảng cáo lớn, là tiếng gào thét thống thiết từ sâu thẳm tâm can, là cú tát mạnh mẽ vào mặt những người còn đang trốn tránh, còn đang sợ hãi, còn đang ngủ quên. Nó thúc giục và ra lệnh cho mọi người hãy thức dậy, và đối mặt.

Đối mặt với cái gì? Đối mặt với sự tuyệt vọng. Rằng không thể có bất cứ một lối thoát nào khả dĩ nếu chúng ta tiếp tục sống như cách chúng ta đang sống hiện nay. Rằng mọi hy vọng chỉ là ảo giác, mọi nỗ lực chỉ là tạm thời, và mọi đau đớn quằn quại đều hoàn toàn vô nghĩa. Chúng ta phải đi cho đến điểm tận cùng, chấp nhận nó, khóc và cười với nó bằng gan ruột chúng ta, để rồi mới có thể thực sự nhận ra “tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa”.

Như tất cả mọi lời tuyên bố chân thật, bộ phim không đưa ra kết luận. Bi quan/lạc quan, hy vọng/tuyệt vọng, cam chịu/bắt tay vào hành động: nó để lại quyền quyết định cho mỗi nhân vật, cũng là mỗi chúng ta. Đó là lời mời gọi tha thiết nhất, trí huệ nhất, từ bi nhất khởi đi từ trái tim của người nghệ sĩ – cũng chính là nơi mà Thượng Đế cư ngụ. Xem phim này, bạn hãy thật im lặng, để nghe được lời thì thầm của Ngài.

Còn rất nhiều tiếng cười, và nhiều cái đẹp trong phim. Nhưng tiếng cười thì không thể kể, cái đẹp thì không thể nghĩ bàn. Tôi để dành những thứ đó để các bạn nhâm nhi thưởng thức. Để kết, tôi chỉ chép ra đây một vài dòng trong bức thư mà Cảnh sát trưởng Willoughby gửi cho Jason, nhân viên của anh:

“…Dù vậy anh vẫn nghĩ là cậu quá giận dữ. Anh biết từ khi cha cậu mất cậu phải chăm sóc mẹ cậu các thứ, nhưng nếu cậu cứ giữ quá nhiều căm hận như vậy trong lòng, anh không nghĩ là cậu có thể bao giờ trở thành – điều mà anh biết cậu muốn trở thành – một cảnh sát điều tra (a detective). Vì cậu có biết để trở thành cảnh sát điều tra thì cần gì không? Cậu hẳn sẽ co rúm lại khi anh nói điều này, nhưng điều cần thiết để trở thành cảnh sát điều tra… là TÌNH YÊU. Vì qua TÌNH YÊU có AN TĨNH, và qua AN TĨNH có TƯ DUY. Và đôi khi cậu cần tư duy để điều tra các thứ, Jason à. Đó có lẽ là tất cả những gì cậu cần. Cậu thậm chí không cần đến súng. Và cậu chắc chắn không cần sự CĂM THÙ. Sự căm thù chưa bao giờ giải quyết được bất cứ vấn đề gì. Nhưng AN TĨNH thì có, và TƯ DUY cũng vậy. Cậu thử xem. Thử một lần để đổi gió xem thế nào. Không ai nghĩ cậu là gay đâu. Hoặc nếu đứa nào nghĩ vậy, thì gô cổ chúng nó lại, vì tội kỳ thị giới tính! Chúng nó há chẳng sẽ sốc hàng lắm hay sao?…”