Nhìn thẳng vào chính mình: đọc lại Thích Minh Châu mùa Phật Đản

Rước Phật qua cầu Tràng Tiền. Ảnh VNexpess.

Phật Đản là mùa lễ hội của những người theo đạo Phật. Đó là mùa mà toàn thể tăng ni Phật tử cùng hướng về, và tri tạ, một sự kiện diễn ra hơn hai mươi lăm thế kỷ trước: ngày đức Phật đản sanh (và đối với một số nhánh Phật giáo, cũng là ngày Ngài thành đạo và nhập diệt). Ở những thành phố có truyền thống tâm linh lâu đời như Huế, lễ hội lại càng huy hoàng và trọng thể. Hoa sen được đặt trên sông, được rước trên xe, được ôm trên ngực. Dưới cờ và hoa, trong tiếng chiêng trống và kinh cầu, giữa cái nóng 39 độ mùa hè, hàng ngàn người con thành tâm rước Phật.

Chẳng phải là con Ngài, cũng chưa định làm tu sĩ, chỉ với một tấm lòng yêu kính Đức Cồ Đàm, với đôi mắt tò mò đứng bên lề đường nhìn lễ hội Vesak, tôi bất giác tự hỏi: “Đức Phật à, có thực là họ đang rước Ngài không vậy?”

Và tôi nhớ, hơn bao giờ hết, những lời của Thượng Tọa Thích Minh Châu, đúng 50 năm về trước. Đó là năm 1970, chiến tranh đang lan rộng và leo thang, đau thương tang tóc đang xảy ra trên khắp cõi Việt Nam. Tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, ngài Viện trưởng đã dùng những lời dưới đây để chào mừng ngày Phật Đản:

“Chiến tranh càng ngày càng trở nên ác liệt, tất cả những đau khổ lớn nhất của nhân loại đã xảy ra tại quê hương  của chúng ta, và hôm nay, giữa lòng đau đớn khôn cùng của đất nước, đấng Thế Tôn lại ra đời, như một vì sao Mai vụt hiện trên vùng tối đen của mặt đất thê lương này.

Đấng Thế Tôn không phải chỉ ra đời cách đây mấy ngàn năm vào một thời gian ấn định, vào một địa điểm xác định nào đó. Không, Đấng Thế Tôn ra đời mỗi ngày và mỗi giây phút trong đời sống chúng ta: chúng ta là những kẻ đồng thời với Ngài, ra đời với Ngài, đau đớn với Ngài, sống với Ngài, lên đường với Ngài và cùng đi về với Ngài trên con đường giải thoátcon đường của vì sao Mai tuyệt đối, hình ảnh bất diệt của Chân Như: đó cũng là dấu hiệu của Pháp thân bất sinh bất diệt giữa sự phân thân bi thảm trầm trọng của quê hương chúng ta.

Giữa cơn biến động tàn khốc của đất nước hiện nay, mỗi người đều cảm thấy rằng mình phải lên tiếng, vì không lên tiếng là có tội lớn với hồn thiêng của quê cha đất tổ; người nào cũng thấy rằng mình phải nói đến Hoà Bình và Dân Tộc, nói đến Tôn Giáo và Dân Tộc, nói đến Trách Nhiệm và Dân Tộc.

Còn những danh từ cao đẹp thời thượng của năm 2019 là gì? Cách mạng 4.0? Đổi mới Sáng tạo? Biến đổi Khí hậu? Nữ quyền? Thuận Tự Nhiên? Hay những gì gì nữa?

Tất cả sự lên tiếng đều đáng tôn kính, tất cả những danh từ cao đẹp đều đáng tôn quí, nhưng thật sự thì đằng sau sự lên tiếng ấy, đằng sau những danh từ cao đẹp ấy chúng ta sẽ thấy được những gì?

Tất cả lời nói đều trở nên vô nghĩa. Bất cứ người nào đi giữa đường cũng có thể lên tiếng và cũng có thể dùng những danh từ cao đẹp… Ai cũng có thể nói được và dùng được những danh từ chìa khoá của thời thượng, những danh từ gợi cảm đầy dân tộc tính và nhân loại tính, nhưng tiếng súng đại bác và tiếng phản lực cơ vẫn ồn ào ấm ĩ và lấn át hết tất cả những khẩu hiệu cao đẹp trên đời này.

Chiến tranh càng ngày càng lan rộng, không phải vì thiếu người tranh đấu cho hoà bình… mà bởi vì đã có quá nhiều người tranh đấu cho hoà bìnhchúng tôi nói đến hoà bình, các ngài nói đến hoà bình; Phật giáo nói đến hoà bình, các tôn giáo khác đều nói đến hoà bình: Mỹ, Pháp, Anh, Tàu, Nga, Bắc Việt và Nam Việt đều nói đến hoà bình; tất cả chúng ta đều ca tụng hoà bình, mà đau đớn biết bao là càng nói nhiều đến hoà bình thì máu lửa ở Việt Nam càng trở nên ác liệt thảm khốc hơn nữa.

Nói như thế, không phải chúng tôi đề nghị chúng ta hãy nói nhiều đến chiến tranh hay là chúng ta hãy chấp nhận chiến tranh. Không phải thế. Không ai lại có thể tàn nhẫn lãnh đạm thờ ơ như vậy và chúng tôi cũng không thể nào có thái độ ngây thơ như vậy.

Chúng tôi chỉ muốn lễ độ báo nguy với tất cả rằng không phải chỉ lên tiếng, không phải chỉ dùng những khẩu hiệu tình cảm là đủ; không phải chỉ suốt ngày suốt đêm chạy Đông cầu Tây để hô hào bênh vực cho hoà bình là đủ; không phải chỉ nói đến tình thương là có tình thương, không phải chỉ nói đến Đạo Pháp và Dân Tộc là cứu nguy quê hương và Tôn Giáo, không phải chỉ nói về hoà bình là đem hoà bình về cho quê hương.

Khi nói như trên, chúng tôi cũng không phải ngây thơ đến nỗi đề nghị với các ngài là đừng lên tiếng và chỉ giữ im lặng thụ động. Không phải thế.

Chúng tôi chỉ muốn lễ độ báo nguy với tất cả chúng ta rằng không phải lời nói là quan trọng, không phải im lặng là quan trọng, mà cũng không phải hành động là quan trọng, mà không phải vô vi thụ động là quan trọng.

Chỉ có một điều duy nhất quan trọng, chỉ một điều quan trọng tối thượng là mỗi người phải dám nhìn thẳng vào bộ mặt thực của chính mình, tự hỏi rằng mình có lường gạt mình bằng những đường lối tinh vi; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự tự do trong tư tưởng; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự giải phóng khỏi tất cả sự sợ hãi trong ý thức và vô thức; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự tiêu trừ hết mọi tham vọng, dù là tham vọng tâm linh; có thực sự tiêu trừ hết mọi đố kỵ, thù hận; có thực sự tiêu trừ hết mọi sự triển khai bản ngã dưới mọi hình thức bằng cách lấp đầy sự trống rỗng của bản ngã bằng những ý niệm cao đẹp, bằng những khẩu hiệu mà ai cũng muốn dùng trên lưỡi và môi như là dân tộc, hoà bình, bác ái, từ bi, trách nhiệm vân vân?

Mỗi người đều chịu trách nhiệm cuộc phân hoá của quê hương hiện nay, mỗi người đều có tội, mỗi người đều đồng loã với sự tương tàn huynh đệ, máu đổ, nhà tan. Tất cả chúng ta đều đồng loã với cuộc chiến tranh này, dù tham chiến hay không tham chiến. Chúng ta đồng loã bằng cuộc sống nông cạn, bằng tình cảm yếu đuối, bằng thành kiến cố định, bằng sự bảo vệ bản ngã, bằng lý tưởng giả đạo đức, nhất là bằng tất cả sự sợ hãi, dưới đủ mọi hình thức.

Sợ hãi là cơn bệnh nặng nề nhất trong mỗi người; sợ hãi là mầm mống của tất cả mọi cuộc chiến tranh; vì sợ hãi nên phải lên tiếng, vì sợ hãi, nên phải im lặng; vì sợ hãi nên phải thụ động, trốn trong tháp ngà.”

5 năm sau khi những lời này được nói ra, chiến tranh chấm dứt. Nhưng nó có chấm dứt thật hay không? Thích Minh Châu khẳng định:

“Chiến tranh nay mai sẽ chấm dứt, nhưng sự nô lệ của con người không hẳn là mất đi, khi hoà bình đến, sự nô lệ này càng hiện lên rõ rệt hơn nữa, vì chỉ có một sự nô lệ đáng sợ là sự nô lệ của tinh thần và tư tưởng, còn tất cả sự nô lệ khác chỉ có tính cách phụ thuộc.”

Sự nô lệ ấy ở đâu ra, và cần phải làm gì?

Tất cả những sự sụp đổ hiện nay, tất cả cơn khủng hoảng hiện nay đều xuất phát từ sự nô lệ tâm thức của cá thể. Chiến tranh xuất phát từ sự mâu thuẫn nội tại của cá thể; cơn bệnh của tập thể phát xuất từ ý thức phân tán của cá thể. Chủ nghĩa quốc gia, cũng như chủ nghĩa quốc tế, không giải quyết được sự mâu thuẫn của ý thức con người; tất cả những ý thức hệ cũng đều thất bại, vì ý thức hệ trở thành quan trọng hơn con người; con người bị nô lệ vào ý thức hệ gây ra những mầm mống phân ly với nhau và hy sinh cho một tương lai ảo tưởng mà bỏ quên hiện tại sống động. Tín điều và tín ngưỡng của tôn giáo cũng gây mầm mống chia rẽ trong con người. Tất cả những cuộc cách mạng lịch sử đều thất bại, vì những cuộc cách mạng ấy đã xây dựng trên những tương quan sai lầm bất động giữa cá thể và tập thể, giữa tư thể và xã hội. Chỉ có một cuộc cách mạng quan trọng và có ý nghĩa, đó là cuộc cách mạng nội tâm của cá thể sáng tạo. Cách mạng nội tâm là cuộc cách mạng của ý thức, của tư tưởng toàn diện trong con người.

50 năm sau, điều quan trọng ấy đã được làm đến đâu rồi? Bao nhiêu người còn ý thức về tình thế mà mình đang ở trong, ngay giữa trạng thái được gọi là hòa bình? Bao nhiêu người thực sự hiểu điều họ đang làm, điều họ đang nói, điều họ gọi là “ngàn năm văn hiến” hay “văn hóa Việt Nam”?

“Thực tính mấy ngàn văn văn hiến ấy là gì? Thực tính của Việt Tính là gì? Nói khác đi, căn nguyên của tinh thần Việt Nam là gì? Nghĩa là cái gì đã làm con người Việt Nam phải đến tình thế lịch sử hiện nay? Cái gì đã làm hai chữ Việt Nam có mặt và đang có mặt một cách đẫm máu trên mặt trái đất hiện nay? Và cái gì sẽ đưa Việt Nam đi đến trong tương lai – đi về tinh túy của quê hương hay đi về sự vong quốc, mất mọi gốc rễ, xa lìa nguồn gốc của đất mẹ? Hiểu được cái gì ấy đã nuôi dưỡng tinh thần dân Việt từ mấy ngàn năm nay, hiểu được cái ấy là tìm ra được thực tính, thực chất, bản tính, bản chất của Việt Nam, sự hiện diện của Việt Nam trong văn hóa Đông Phương và sự đối diện của Việt Nam với văn hóa Tây Phương. Hậu quả của sự hiện diện ấy là hiện trạng của con người Việt Nam bây giờ, một hiện trạng thê thảm được thể hiện qua ý thức về sự đánh mất thực tính của Việt Nam đồng một nhịp với sự đánh mất thực tính của Đông phương, song hành với sự đánh mất thực tính của Tây phương trong sự khủng hoảng của nền văn minh Tây Phương hiện đại. Sự khủng hoảng này đã tìm được mảnh đất Việt Nam để phát hình một cách ngoạn mục bi đát qua trận chiến tranh Việt Nam vì Việt Nam là mảnh đất mà con người đã trải qua kinh nghiệm tang thương nhất về sự mâu thuẫn cao độ giữa sự hiện diện và sự đối diện, giữa sự đánh mất về tự tính và sự đánh mất về tha tính, giữa sự khủng hoảng của những giá trị Đông Phương và những giá trị Tây Phương. 

Sự khủng hoảng ấy phát ra từ sự tàn phế suy liệt trong tinh thần Việt Nam, từ sự tiêu tán suy nhược của sinh lực Việt Nam: cơ thể Việt Nam đã mất sinh lực trong chính tự thân và chính sự mất sinh lực nội tại ấy đã là nơi đón rước con vi trùng nguy hiểm nhất ở thời hiện đại, đó là tinh thần hư vô (nihilisme) lan tràn khắp thế giới hiện nay. Chủ nghĩa hư vô là hậu quả của sự mất sinh khí trong tất cả mọi giá trị của nhân loại từ trước cho đến bây giờ và chính chủ nghĩa hư vô ấy đã đưa đến trận chiến tranh ác liệt ở Việt Nam từ mấy chục năm nay: và con người nhất là con người Việt Nam càng lúc lại càng không biết mình là ai, mình đang ở đâu, mình sẽ ra sao, vì tất cả mọi sự đã đảo lộn, tất cả mọi giá trị thiêng liêng đã đổ ngã, và ý thức của Việt Nam, càng lúc càng rã rời phân tán, và con người đang là “con người Việt Nam”, bỗng một sớm thấy mình hóa thân thành một con vật sợ hãi, con thú bị săn đuổi, sợ hãi tất cả mọi sự, run rẩy khắp toàn thân vì biết rằng mình có thể chết bất cứ lúc nào, không phải chỉ nơi trận địa mà ngay tại nhà mình, con thú sợ hãi ấy càng lúc càng sợ bâng quơ, càng lúc càng co rúm lại, vì sợ hãi làm cho người ta co rút lại, càng co rút lại thì mình càng nhỏ bé dần đến lúc nhỏ lại gần như một đồ vật, một gói, một trái banh tròn, của con người mà ai muốn đá đi đâu cũng được; tự chủ biến nghĩa đi và trở thành tự vệ, và sau cùng tự vệ biến nghĩa đi và trở thành tự động hay thụ động; con người biến thành con vật và con vật biến thành đồ vật rồi đồ vật biến thành cái máy, một thứ máy móc tự động.

Con người thì thảm thương như thế, nhưng còn sản phẩm tinh thần của con người? Sản phẩm tinh thần của con người trở nên một guồng máy được tổ chức một cách tinh vi tối tân; guồng máy to lớn ấy để ra những cái máy nhỏ, gọi là những con người máy; những đại học đường trở nên những lò đúc, mỗi năm cố gắng tạo ra thực nhiều những con người máy, mang tên là kỹ sư; bác sĩ, chuyên viên, ký giả, học giả v.v…. mỗi năm, từng lớp sinh viên ra đời; mang một nhãn hiệu đẹp đẽ, một chức tước cao trọng, để rồi không biết mình sống để làm gì trong một thế giới mà càng lúc con người càng vắng mặt. Càng lúc những đồ vật càng nhiều, và giá trị của đồ vật trở thành tiêu chuẩn để đánh giá con người. Con người lại trở nên một đồ vật giữa những đồ vật, văn hóa trở thành những trang điểm phấn son, làm đẹp một nét mặt khô chết. 

Đã từng có một thời như thế, nơi trái tim của tâm linh Việt Nam, điểm hội tụ của minh triết Việt Nam, những lời lẽ của trí huệ và từ bi được ấm nóng đanh thép tỏa ra như thế. Những lời này không chỉ nên được đọc mỗi 50 năm một lần, hay mỗi mùa Phật Đản. Hơn bao giờ hết, những câu hỏi đau đáu và những lời gửi gắm thiết tha ngài Viện trưởng để lại cho chúng ta, cần được đọc lại, cần được thể nhập và cần được hành động, trong từng hơi thở hôm nay:

“Đức Phật đã cứu chúng ta, bây giờ đến lượt chúng ta hãy cứu lấy Đức Phật. Làm sao làm sống lại Chân Lý? Làm sao cho niềm tin tôn giáo thôi còn là một món trang hoàng cho đời sống trí thức hay tệ hơn cho sinh hoạt cảm tình của con người, mà trái lại, phải trở thành nhịp thở của tim, thành máu lưu thông trong huyết quản, thành chính sự sống? Làm sao cho sống lại nụ cười hai ngàn năm trăm năm trước của đức Từ Phụ, nụ cười của Từ, Bi, Hỉ, Xả, để xóa tan vết hằn trên mặt thế giới đau thương? Việt Nam rách nát của chúng ta và cả nhân loại hiện nay, đang héo mòn trông đợi nụ cười ấy, nụ cười của Thế Tôn ngày Thành Đạo.”


Toàn bộ các trích đoạn trong bài đều trích từ tập sách “Trước sự nô lệ của con người – Con đường thử thách của văn hóa Việt Nam” – TT Thích Minh Châu – Nha Tu Thư và Sưu Khảo, Viện Đại Học Vạn Hạnh 1970. Bản điện tử chép từ Thư Viện Hoa Sen, có chỉnh sửa một vài lỗi typo.

Khổ, Đau và Trung Thực

KHỔ

Chúng ta quá quy hướng vào chính ta. Ta sống trong vỏ ốc của tự ngã, ngày càng lớn theo ta, cơ hồ không lột bỏ được. Dường như ta mang nó theo suốt đời, từ tấm bé đến ngày nhắm mắt. Tuy nhiên, thiên nhiên vẫn hiến cho ta nhiều cơ hội đập vỏ bước ra, và cơ hội đầu tiên, thuận tiện nhất, là khi ta bước vào thời hoa niên. Đó là lần đầu tiên cái tôi của ta thoạt biết có “người khác”. Tôi muốn nói đến sự thức tỉnh của dục tình. Một cái tôi, tưởng là toàn nguyên, là bất khả phân, giờ đây như tự chẻ đôi ra. Tình yêu bấy lâu ngủ say trong đáy tim vươn mình lên, và gây bạo động. Vì đây là lúc vừa dấy lên, tình yêu đòi hỏi ngay, cùng một lúc, vừa xác định cái tôi, vừa trừ bỏ cái tôi. Tình yêu khiến cái tôi tự mất đi trong đối tượng nó yêu, nhưng đồng thời cũng đòi quyền chiếm hữu đối tượng ấy. Thật là mâu thuẫn, và chính mâu thuẫn ấy là một đại bi kịch của nhân sinh. Cảm giác căn bản ấy có lẽ là nguyên động lực thúc giục loài người hướng thượng. Thượng Đế ban khổ cho con người để hoàn tất con người.” – D. T. Suzuki, Thiền Luận, Trúc Thiên dịch


ĐAU

Bạn có thể thử kháng cự và bảo vệ mình khỏi sự đau. Và bạn có thể thành công ở một chừng mực nào đó. Nếu bạn nỗ lực hết mình, bạn thậm chí có thể ngăn chặn nỗi đau, không cho nó được cảm thấy. Nhưng rồi bạn sẽ không bao giờ nhận ra, bất hạnh thực sự chính là việc không cho phép nỗi đau chạm vào mình. Nỗi đau ở đó cho bạn, không phải để chống lại hay hành hạ bạn.


TRUNG THỰC

Để tôi nói với bạn tại sao bạn nên trung thực. Bởi vì bạn không thể lừa dối. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối suy nghĩ của bạn, bạn cũng không thể lừa dối cảm xúc của bạn. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối cảm xúc của bạn, bạn cũng không thể lừa dối cơ thể của bạn. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối cơ thể của bạn, bạn cũng không thể lừa dối tinh thể (being/spirit) của bạn. Vì tinh thể của bạn luôn luôn biết cái gì là thật và cái gì là giả. Và nếu bạn cứ cố gắng tiếp tục lừa dối bản thể của mình (thường thì vì bạn quá sợ đau, sợ khổ), nó sẽ giống như là tự tử: bạn đang phá hủy chính mình. Cho nên để sống trọn vẹn, sống cho ra sống, chỉ còn một cách trung thực mà thôi.

Cái chết của loài Ong

Hôm nay anh đọc một bài báo về việc các loài côn trùng đang lặng lẽ biến mất. Anh bỗng thần người ra, nhớ về những lần bị ong đốt hồi nhỏ (thường là lúc đang phá tổ ong), những khi ngồi nhìn đàn kiến di chuyển hàng tiếng đồng hồ (thường là trước khi chọc tổ kiến), những lúc thức khuya rủ nhau đi xem ve sầu lột xác (rồi thử kéo con ve non ra khỏi vỏ để đến nỗi cánh nó bị cháy và không bay được nữa). Rồi những châu chấu cào cào bị bắt làm mồi câu cá, những dế mèn bị bắt đá nhau, những cánh cam, bọ rùa, bọ xít, bọ hung, bươm bướm, chuồn chuồn… cả một thế giới côn trùng xinh đẹp và bí ẩn, vừa là đối tượng để chiêm ngắm, vừa là nạn nhân của sự dã man vô thức của đám trẻ nít bọn anh.

Anh không biết mình đã góp bao nhiêu phần trong số 80-90% các loài côn trùng đã biến mất khỏi bề mặt trái đất trong 20 năm qua. Dù chỉ là một phần tỉ tỉ, thì anh cũng đã góp phần vào đó. Mà đó chỉ mới là những gì anh nhìn thấy, anh nhớ về, anh ý thức được. Phần lớn hệ quả từ hành động của anh hàng ngày, anh hoàn toàn không hay biết. Anh cứ sống, và những con ong cứ chết.

Điều đó sẽ chẳng can hệ gì nếu anh không nhớ và không buồn. Nhưng cảm xúc tự đến: Tự Nhiên không cho phép anh trốn chạy. Chúng thúc giục anh ngước nhìn lên tán cây từ cửa sổ một quán quen, chúng cho anh chút mừng vui khi nhìn thấy bầy ong vàng đang hăng say làm việc – loại niềm vui nghẹn ngào khó tả như gặp lại một người bạn thiết đã quá lâu không gặp – để rồi, gần như ngay lập tức, chúng nhúng anh vào một nỗi buồn sâu thẳm, rằng đây rất có thể là một trong những tổ ong cuối cùng mà anh được nhìn ngắm, rằng sau này, kể cả khi anh muốn được ong đốt (chứ không phải bị), thì cũng không còn ai ở đó để mà đốt anh.

Chúng ghim vào tim anh một cú đau nhói để cho anh nhớ, bởi vì, dù anh không còn quá ngu nhưng lại có một trí nhớ quá tồi: cái chết của ong cũng chính là cái chết của anh.

Lời nguyện cầu cho những người phản kháng

Chính phủ ban hành một vài dự luật. Nhiều người xuống đường biểu tình phản đối các dự luật đó. Nhiều người không xuống đường nhưng theo dõi sát sao việc xuống đường. Nhiều người phản đối, thậm chí mỉa mai việc xuống đường. Nhiều người phản đối những người phản đối. 

Những dòng tiếp theo đây không liên quan gì đến tất cả những nhóm người trên. Hoặc nếu có, thì liên quan ở một khoảng cách đủ xa để không dính líu gì đến lựa chọn và thái độ của họ. Đây chỉ là vài suy tưởng vụn của cá nhân tôi khi quan sát những điều đang diễn ra.

Tôi đã nghĩ nhiều về sự phản kháng từ khi còn là một cậu học sinh cấp 3 chán chường và cô độc. Và tôi bắt đầu phản kháng từ khi trở thành sinh viên đại học. Từ đó đến nay đã gần 20 năm, không một ngày nào tôi không phải là một kẻ phản kháng.

“Mỗi một hành động phản kháng đều biểu đạt một nỗi hoài niệm về sự hồn nhiên và là một lời thỉnh cầu hướng tới điều cốt lõi của đời sống. (Every act of rebellion expresses a nostalgia for innocence and an appeal to the essence of being.)

– Albert Camus

Là một kẻ phản kháng, tôi đặt câu hỏi về mọi thứ có ý định áp đặt luật lệ/khuôn khổ/định hướng lên tôi: gia đình, nhà trường, xã hội, luật pháp, chính phủ, người yêu, bạn bè, đồng nghiệp, hay một người xa lạ bất kỳ. Tôi đã bỏ ra một khối năng lượng khổng lồ để có thể ngày càng trở nên độc lập hơn với tất cả những điều đó. Mục tiêu tối thượng của tôi, và cũng là điều tôi thực hành mỗi ngày, là không một ai, hay bất kỳ thể chế nào, trong bất kỳ tình huống nào, có thể chi phối hay điều khiển mình. 

Lúc đầu tôi không biết mình phản kháng để làm gì. Tôi chỉ khó chịu, cáu bẳn và tức giận, với mọi thứ và hầu hết mọi người. Nhưng dần dần thái độ đó làm tôi trở nên kiệt sức và chai lì cảm xúc. Quan trọng hơn, tôi không muốn mình rơi vào trạng thái phản xạ tự động: phản kháng bất kỳ điều gì mà mình cho là không đúng. Tôi ngày càng ý thức hơn về hiểu biết hạn hẹp của mình: những điều tôi cho là không đúng cũng có thể đúng lắm chứ. 

Qua thời gian, mong muốn được đúng của tôi vẫn còn y nguyên, và là nguyên động lực giúp tôi ngày càng đến gần sự thật. Nhưng mong muốn chứng minh/khẳng định người khác sai trong tôi đã giảm đi theo năm tháng. Cho đến bây giờ, tôi đã đi đến chỗ hiểu rằng mỗi người, ở một thời điểm nhất định, trước một sự việc nhất định, đều đúng theo góc nhìn của mình, và lựa chọn hành động trong giới hạn nhận thức của mình.

Một người phản kháng là kẻ yêu cuộc đời này sâu sắc và thực sự quan tâm đến những gì đang vận hành ở tận trung tâm của đời sống này. Kẻ đó, bằng sự kiên nhẫn và dũng cảm thực hành phản kháng, sớm muộn sẽ biết cách lùi xa khỏi những cơn sóng không ngơi nghỉ trên mặt nước, để tập trung hơn vào những gì nằm ở cốt lõi ở những tầng sâu hơn. Vẫn là Camus:

“Sự phản kháng không thể tồn tại mà không có một kiểu tình yêu kỳ lạ” (Rebellion cannot exist without a strange form of love.)

Và ở một trong những tầng sâu đó, tôi khám phá ra Niềm vui và Cái đẹp. Tôi nhận ra rằng, ngày nào mà tôi sống vui và sống đẹp, ngày đó tôi đang thực hành phản kháng triệt để. 2500 năm trước, sống giữa thời loạn Xuân Thu và Chiến Quốc, Trang Tử đã chọn cách sống đó. 2500 năm sau, trong một thế giới “hiện đại” với hệ thống kinh tế-xã hội toàn cầu được thiết kế tinh vi bởi các nhóm lợi ích chóp bu (Các Tập đoàn Lớn, Chính phủ Lớn) để con người ngày càng đau khổ hơn, tức giận hơn, bất lực hơn và xấu xí hơn (trong khi vẫn liên tục được rao giảng và hứa hẹn về niềm vui và cái đẹp), câu trả lời vẫn không thay đổi: Người sống hạnh phúc là kẻ phản kháng trọn vẹn nhất. Và việc sống hạnh phúc của người đó, dù vô ngôn, trở thành một lời nguyện cầu chân thực nhất, mạnh mẽ nhất, hiến dâng cho đời sống diệu kỳ này. 

Đến đây, một lần nữa, tôi lại nhớ Camus – ông đã viết quá hay điều tôi định giãi bày:

“Cái Đẹp, hẳn rồi, chẳng làm nên được cuộc cách mạng nào. Nhưng sẽ đến một ngày mà những cuộc cách mạng sẽ phải cần đến cái đẹp.” (Beauty, no doubt, does not make revolutions. But a day will come when revolutions will have need of beauty.)

dòng tôi đang chảy

Lâu rồi tôi không ngừng lại để quan sát chính mình. Hay nói đúng hơn, việc quan sát chính mình của tôi đã trở thành thói quen ăn sâu đến mức, giống như việc thở, tự động diễn ra bất kể tôi có ngừng lại hay không. Lâu rồi tôi không ngừng lại xem tôi đang thở thế nào.

Tôi biết mình đang dịch chuyển. “Dịch” là một từ có nội hàm sâu xa và rộng lớn, đến mức từ cổ xưa đã có hẳn một pho Kinh Dịch ẩn tàng nhiều lớp quặng tri trức mà con người ngày nay vẫn còn đang miệt mài khai quật. Minh triết cổ và vật lý hiện đại đã đi đến chỗ đồng quy: vũ trụ vốn rỗng không, cái Không dịch chuyển mà thành ra các hạt, các hạt dịch chuyển mà thành ra vật chất. Suy nghĩ là dịch chuyển thông tin. Cảm nhận là dịch chuyển năng lượng. Sinh sản là dịch chuyển nguồn gen. Một nốt nhạc vang lên. Rồi vang lên lần nữa. Nhưng mọi chuyện đã đổi thay.

Tôi cũng đổi thay. Ngày càng nhanh và nhiều đến mức khó mà nắm bắt và liệt kê hết được. Bất cứ lúc nào tôi muốn định nghĩa chính mình, tôi buộc phải làm đông cứng dòng chảy, cắt ra một lát nhỏ, quan sát và miêu tả lát cắt đó, hòng làm rõ một vài thuộc tính, một số đặc điểm. Nhưng chừng nào tôi còn sống, chừng nào dòng chảy tiếp tục chảy trôi, thì chẳng mấy chốc mà các đặc điểm hay thuộc tính đó sẽ không còn ở đó nữa.

Borges viết: “Thực ra tôi không chắc là tôi tồn tại. Tôi là mọi nhà văn tôi đã đọc, mọi con người tôi đã gặp, mọi phụ nữ mà tôi đã yêu, mọi thành phố tôi đã đến.” Tôi là mọi thứ, đồng thời cũng không là gì. Tôi là sự dịch chuyển, là sự tổng hòa, là sự tương hợp của triệu triệu cơ duyên. Việc định nghĩa tôi là ai liệu có chút nào quan trọng trong dòng chảy miên viễn ấy?

“Tôi không có quy lệ thường ngày và lịch sử cá nhân. Đến một ngày tôi nhận ra chúng chẳng còn cần cho tôi nữa và, cũng giống như rượu, tôi bỏ chúng. Người ta nên có mong muốn bỏ chúng đi và nên bắt đầu bỏ chúng từng chút một, một cách nhẹ nhàng. Nếu bạn không có lịch sử cá nhân, sẽ chẳng có gì phải giải thích; không ai tức giận hay vỡ mộng về hành vi của bạn. Và hơn hết thảy không ai đóng khung bạn bằng suy nghĩ của họ. Tốt nhất là nên xóa hết lịch sử cá nhân, vì điều đó giúp chúng ta được tự do khỏi bao nhiêu suy tưởng ngổn ngang của người khác. Một cách từ từ, tôi đã tạo ra một lớp sương mờ xung quanh mình và cuộc đời của mình. Và không ai thực sự biết tôi là ai hay tôi làm gì. Kể cả tôi. Làm sao tôi biết được tôi là ai, nếu tôi là tất cả những điều này?”

Tôi thực sự đồng cảm với đoạn viết trên của Carlos Castaneda. Hôm nay tôi ngồi đọc hàng trăm câu trả lời từ một form câu hỏi mà tôi đã ngẫu hứng tạo ra. Tôi nhận ra mình hồi đó. Tôi thấy mình bây giờ. Tôi gặp mình trong suy nghĩ, trong sợ hãi, trong niềm tin của người khác. Dù họ kể về họ hay về tôi, dù là một ý nghĩ thoáng qua hay là cả một bầu tâm sự tràn trề, dù là những mảng màu sáng trong hay u tối, tôi đều nhận ra các mảnh ghép của mình. Chúng ta đều là các mảnh ghép của nhau. Chúng ta là từng sợi tơ đan vào nhau dệt nên tấm lụa đời sống. Chúng ta là muôn vạn hình thái của nước: sương sớm, mưa rào, băng tuyết, suối, sông, mạch ngầm, thác đổ… để rồi tất cả đều chảy về đại dương.

“Tôi nghĩ về tôi như là một kẻ mãi mãi kỳ quặc, một linh hồn cô đơn, một gã lang thang, một nghệ sĩ quay quắt không ngơi nghỉ, một người đang trong tình yêu với tình yêu, luôn luôn trên đường tìm kiếm cái tuyệt đối, luôn luôn theo đuổi những điều không thể đạt được.” – Chẳng phải vì chúng ta tương thông nối kết, mà Henry Miller đã có thể viết đoạn trên về ông chân thành và chuẩn xác y như viết về tôi, hay về bất kỳ ai đang đọc những dòng này, đó sao?

Sách và Người

Một bìa sách Mưa vẽ, 2010.

Sách có nhiều điểm giống người. Tiếng nói của sách là âm thanh vang vọng của cuộc đời một con người. Duyên gặp một cuốn sách hay cũng giống như duyên gặp một người bạn quý. Không phải cứ mua là được, đọc là được. Mà phải đầy đủ điều kiện tinh thần, khi dòng chảy cuộc sống đặt mình vào đúng vị trí đó, cầm đúng cuốn sách đó, để đúng những dòng chữ đó cộng hưởng với lòng mình ở đúng thời điểm đó trong một mối giao cảm thân thương không gì khác làm được. Đó mới là “gặp” một cuốn sách.

Sách cũng có nhiều điểm khác người. Mình có thể yêu quý nâng niu sách, rồi bỏ đi một mạch vài năm sau trở lại, sách vẫn không nề hà. Nhưng sách cũng chẳng lớn lên. Nếu vài năm sau mình đã trưởng thành hơn so với lúc mình yêu sách, thì sách trở nên nhạt nhẽo, tầm thường, vô vị. Tất nhiên, sách cũng không lấy đó làm điều. Sách lại lặng lẽ đi tìm những người đang lớn khác. Lại có những sách đợi mình lớn lên, đợi mình thấy cái hay mà lúc vội vàng mình chưa thấy. Dù sao mặc lòng, lúc nào sách cũng tĩnh lặng hơn, và kiên nhẫn hơn.

Sách rất trung thực, như một tấm gương trong vắt. Sách cho thấy ai là người kỹ lưỡng, chỉn chu. Ai khác hời hợt, nhạt nhẽo. Ai khác giả dối, xu nịnh. Ai chắt từng giọt máu của mình lên trang giấy, ai copy-paste chỉ để làm tác giả. Ai tự do, ai sợ hãi, ai tức giận, ai an nhiên. Vàng thau lẫn lộn, như người. Nhưng cũng như người, quan sát đủ, thì thấy rõ.

Như một con người đã hoàn toàn là bản thân mình, một cuốn sách độc đáo trọn vẹn rất khó để phân loại. Đặt “Hoàng Tử Bé” vào đâu đây, sách thiếu nhi hay người lớn, sách triết hay sách văn? Đặt sách Bùi Giáng vào đâu đây, thơ hay văn, tôn giáo hay triết học, cổ điển hay hiện đại, Đông Phương hay Tây Phương? Ngược lại, những cuốn sách dễ dàng để lọt vào trong một thể loại, thường chỉ là một mảnh vụn, một sự quy thuận và chia tách, không chỉ cho dễ đọc, mà còn trong chính cách sống của người viết nữa.

Phân loại sách có lẽ cũng như phân loại người, không nên theo trình độ, theo đề tài, theo độ hiểu biết, theo độ nổi tiếng, mà chỉ nên theo đúng một tiêu chí thôi: sức sống. Có những trang sách nơi dòng chữ chảy trôi phập phồng những nhịp đập nóng hổi, và những trang sách nơi chữ nằm chết đứ đừ, bốc lên một thứ mùi mốc meo lưu cữu, hoặc uốn éo màu mè những tấm mặt nạ rẻ tiền, cố gắng che đậy sự trống rỗng chết chóc.

Nhân nói chuyện thể loại, thì không hề có “fiction” với “non-fiction”. Hầu hết sách đều là hư cấu cả. Lịch sử: hư cấu. Khoa học: hư cấu. Tôn giáo: hư cấu. Rất hiếm những cuốn sách chân thực nhất và minh triết, những cuốn sách nói về SỰ THẬT. Làm sao để tìm những cuốn sách đó, lại phải tùy duyên.

Người phụ nữ mạnh nhất

Một cảnh trong Phantom Thread (2017)

Ai là người phụ nữ mạnh mẽ nhất trên màn ảnh 2017-2018? Wonder Woman là một nữ siêu anh hùng xinh đẹp dựng lên để kéo người ta đến rạp. Bà mẹ trong Three Billboards là một người mẹ mất con tuyệt vọng và gan lì. Lady Bird là một cô bé mới lớn và một nữ đạo diễn mới nhú. Cô gái trong Shape of Water là một kẻ cô đơn phát hiện ra mình thích làm tình với người cá. Mother! có nhắc đến hình tượng người mẹ lớn – Mẹ Tự Nhiên – nhưng người mẹ này bị chồng con hành hạ cho lên bờ xuống ruộng.

Chỉ sót lại một người phụ nữ siêu quyền lực: Alma trong Phantom Thread. Cô là người vợ duy nhất có khả năng nhìn thẳng vào mắt chồng mình, đẩy dĩa trứng trộn với nấm độc cô đã tự tay chuẩn bị đến trước mặt ông ta, và nói một cách bình thản:

“Em muốn anh phải nằm dài ra. Bất lực, yếu ớt, mở phơi… và chỉ duy nhất một mình em mới có thể giúp anh. Sau đó em muốn anh mạnh mẽ trở lại. Anh sẽ không chết. Anh có thể ước rằng mình chết đi cho xong, nhưng anh sẽ không chết. Anh chỉ chậm lại một chút thôi.”

Để đáp lại, người chồng, vừa nhìn cô dịu dàng vừa từ tốn ăn hết dĩa trứng, rồi vươn người về phía cô:

“Hôn anh đi, cô gái của anh, trước khi anh ngộ độc.”

Đó là loại quyền lực ghê gớm mà một người phụ nữ sở hữu: tình yêu, sự dịu dàng, sự quả quyết, và quyến-rũ-không-gì-cưỡng-nổi.