Cái chết của loài Ong

Hôm nay anh đọc một bài báo về việc các loài côn trùng đang lặng lẽ biến mất. Anh bỗng thần người ra, nhớ về những lần bị ong đốt hồi nhỏ (thường là lúc đang phá tổ ong), những khi ngồi nhìn đàn kiến di chuyển hàng tiếng đồng hồ (thường là trước khi chọc tổ kiến), những lúc thức khuya rủ nhau đi xem ve sầu lột xác (rồi thử kéo con ve non ra khỏi vỏ để đến nỗi cánh nó bị cháy và không bay được nữa). Rồi những châu chấu cào cào bị bắt làm mồi câu cá, những dế mèn bị bắt đá nhau, những cánh cam, bọ rùa, bọ xít, bọ hung, bươm bướm, chuồn chuồn… cả một thế giới côn trùng xinh đẹp và bí ẩn, vừa là đối tượng để chiêm ngắm, vừa là nạn nhân của sự dã man vô thức của đám trẻ nít bọn anh.

Anh không biết mình đã góp bao nhiêu phần trong số 80-90% các loài côn trùng đã biến mất khỏi bề mặt trái đất trong 20 năm qua. Dù chỉ là một phần tỉ tỉ, thì anh cũng đã góp phần vào đó. Mà đó chỉ mới là những gì anh nhìn thấy, anh nhớ về, anh ý thức được. Phần lớn hệ quả từ hành động của anh hàng ngày, anh hoàn toàn không hay biết. Anh cứ sống, và những con ong cứ chết.

Điều đó sẽ chẳng can hệ gì nếu anh không nhớ và không buồn. Nhưng cảm xúc tự đến: Tự Nhiên không cho phép anh trốn chạy. Chúng thúc giục anh ngước nhìn lên tán cây từ cửa sổ một quán quen, chúng cho anh chút mừng vui khi nhìn thấy bầy ong vàng đang hăng say làm việc – loại niềm vui nghẹn ngào khó tả như gặp lại một người bạn thiết đã quá lâu không gặp – để rồi, gần như ngay lập tức, chúng nhúng anh vào một nỗi buồn sâu thẳm, rằng đây rất có thể là một trong những tổ ong cuối cùng mà anh được nhìn ngắm, rằng sau này, kể cả khi anh muốn được ong đốt (chứ không phải bị), thì cũng không còn ai ở đó để mà đốt anh.

Chúng ghim vào tim anh một cú đau nhói để cho anh nhớ, bởi vì, dù anh không còn quá ngu nhưng lại có một trí nhớ quá tồi: cái chết của ong cũng chính là cái chết của anh.

Trí thông minh nhân tạo và sự ngu xuẩn tự nhiên

(Mưa trích dịch từ “21 lessons for the 21th century” của Yuval Noah Harari)

Một cảnh trong series Westworld

Có một mẩu tin tốt lành là ít nhất trong một vài thập kỷ tới, chúng ta sẽ không phải đối mặt với cơn ác mộng khoa-học-viễn-tưởng rằng AI sẽ đạt tới ý thức (consciousness) và quyết định nô dịch hoặc tiêu diệt loài người. Chúng ta sẽ ngày càng dựa vào các thuật toán để đưa ra quyết định, nhưng sẽ rất ít khả năng các thuật toán sẽ thao túng chúng ta một cách có ý thức. Chúng sẽ không có chút ý thức nào.

Khoa học viễn tưởng thường nhầm lẫn trí thông minh với ý thức, và cho rằng để đuổi kịp hoặc vượt qua trí tuệ con người, máy tính sẽ phải phát triển ý thức. Cốt truyện cơ bản của hầu hết phim và sách về AI đều xoay quanh một thời điểm kỳ ảo khi một chiếc máy tính hoặc một robot có được ý thức. Khi điều đó xảy ra, thì hoặc là nhân vật chính loài người rơi vào tình yêu với con robot, hoặc con robot cố giết tất cả con người, hoặc cả hai thứ xảy ra cùng một lúc.

Trong thực tế, không có lý do để cho rằng trí thông minh nhân tạo sẽ đạt tới ý thức, vì trí thông minh và ý thức là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Trí thông minh là khả năng giải quyết vấn đề. Ý thức là khả năng cảm thụ những thứ như là đau đớn, hoan lạc, yêu thương và giận dữ. Chúng ta thường lẫn lộn hai khái niệm này bởi vì ở loài người và các động vật có vú khác trí thông minh thường đi cùng với ý thức. Động vật có vú giải quyết các vấn đề bằng cảm thụ. Trong khi đó, máy tính giải quyết vấn đề theo cách hoàn toàn khác.

Có một số con đường khác nhau dẫn đến trí thông minh cao cấp, và chỉ một vài trong số những con đường này có liên quan đến việc đạt tới ý thức. Cũng giống như máy bay bay nhanh hơn chim mà không hề phát triển lông vũ, máy tính cũng có thể xử lý vấn đề tốt hơn động vật có vú mà không cần phát triển khả năng cảm thụ. Đúng là AI sẽ phải phân tích chính xác cảm giác của con người để chữa bệnh cho họ, nhận ra quân khủng bố, làm mai mối hoặc di chuyển giữa đường phố đầy khách bộ hành. Nhưng nó có thể làm như thế mà không cần có chút cảm giác nào của riêng nó. Một thuật toán không cần phải cảm thấy vui vẻ, tức giận hay sợ hãi để nhận ra các mẫu sinh hóa (biochemistry patterns) khác nhau của những con vượn vui vẻ, tức giận hay sợ hãi.

Tất nhiên, không phải hoàn toàn không có khả năng là AI sẽ phát triển cảm giác của riêng nó. Chúng ta chưa biết đủ nhiều về ý thức để có thể chắc chắn về việc này. Nhìn chung, có ba khả năng mà chúng ta cần cân nhắc:

  1. Ý thức có liên hệ với các thực thể sinh hóa hữu cơ theo một cách nhất định nào đó khiến cho việc tạo ra ý thức trên các hệ thống vô cơ là bất khả.
  2. Ý thức không có liên hệ với các thực thể sinh hóa hữu cơ, nhưng nó liên hệ với trí thông minh theo một cách nhất định khiến cho máy tính có khả năng phát triển ý thức, và máy tính sẽ PHẢI phát triển ý thức nếu chúng muốn vượt qua một ngưỡng thông minh nhất định.
  3. Không có chút liên hệ nào giữa ý thức và hệ thống sinh hóa hữu cơ lẫn trí thông minh cao cấp. Vì thế máy tính có thể phát triển ý thức – nhưng không nhất thiết như vậy. Chúng có thể trở nên siêu thông minh trong khi không có chút ý thức nào.

 Ở mức độ hiểu biết hiện tại, chúng ta không thể loại trừ bất cứ khả năng nào trong các khả năng trên. Nhưng chính xác vì chúng ta biết quá ít về ý thức, có rất ít khả năng chúng ta có thể sớm tạo ra các máy tính có ý thức. Nên mặc cho sức mạnh ghê gớm của trí thông minh nhân tạo, trong tương lai có thể dự đoán được (foreseeable future), việc sử dụng nó vẫn ít nhiều sẽ cần đến ý thức của con người.

Hiểm họa nằm ở chỗ nếu chúng ta dồn quá nhiều nguồn lực vào phát triển AI và quá ít vào phát triển ý thức của con người, sự tinh vi của trí tuệ nhân tạo sẽ chỉ phục vụ cho việc làm mạnh thêm lên sự ngu xuẩn tự nhiên (natural stupidity) của con người. Chúng ta sẽ ít có khả năng bị tấn công bởi một cuộc nổi loạn của robot trong những thập kỷ tới, nhưng chúng ta sẽ phải đối mặt với những quân đoàn bots biết rõ cách thao túng cảm giác của chúng ta hơn cả mẹ chúng ta, và sử dụng khả năng huyền bí này để bán cho chúng ta cái gì đó – dù là một chiếc xe hơi, một chính khách, hay nguyên cả một hệ tư tưởng. Những con bots này có thể xác định nỗi sợ hãi, nỗi hận thù và những khao khát sâu kín nhất của chúng ta, và sử dụng những đòn bẩy nội tại (inner leverages) này để chống lại chúng ta. Chúng ta vốn đã được nếm thử điều này trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý gần đây, khi mà hackers đã tìm được cách thao túng cử tri bằng cách phân tích dữ liệu về họ và lợi dụng các thành kiến sẵn có của họ. Trong khi những câu chuyện khoa học viễn tưởng giật gân thường dựng lên các kịch bản tận thế đầy kịch tính, thì trong thực tế chúng ta rất có thể đang đối diện với một tận thế hết sức tầm thường bởi những cú click chuột.

Để tránh khỏi viễn cảnh đó, với mỗi đô-la và mỗi phút chúng ta đầu tư vào việc nâng cấp trí thông minh nhân tạo, sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta bỏ ra một đô-la và một phút để phát triển ý thức con người. Thật đáng tiếc, hiện tại chúng ta đang không làm gì nhiều để nghiên cứu và phát triển ý thức. Chúng ta chủ yếu chỉ nghiên cứu và phát triển khả năng con người dựa theo nhu cầu ngay trước mắt của hệ thống kinh tế và chính trị, thay vì dựa vào nhu cầu dài hạn của chúng ta với tư cách là các thực thể sống có ý thức (conscious beings). Sếp tôi muốn tôi trả lời emails nhanh nhất có thể, nhưng ông ta chẳng mấy quan tâm đến khả năng nếm và trân trọng thức ăn của tôi. Vì vậy, tôi kiểm tra emails ngay cả trong các bữa ăn, trong khi mất dần khả năng lưu ý đến cảm giác của chính mình. Hệ thống kinh tế gây sức ép khiến tôi phải mở rộng và làm phong phú danh sách đầu tư của mình, nhưng không cho tôi chút khích lệ nào để mở rộng và làm phong phú khả năng thấu cảm của tôi. Vì thế tôi phấn đấu để hiểu những bí ẩn của việc mua bán cổ phiếu, trong khi bỏ ra ít nỗ lực hơn nhiều trong việc tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa của khổ đau.

Ở khía cạnh này, con người giống với các loài động vật đã thuần hóa khác. Chúng ta tạo ra những giống bò ngoan ngoãn có khả năng cho lượng sữa khổng lồ, nhưng ngoài việc đó ra thì chúng thua kém xa tổ tiên hoang dã của chúng. Chúng kém nhanh nhẹn hơn, kém tò mò hơn và ít khả năng thích nghi hơn. Ở thời điểm hiện tại chúng ta đang tạo ra những con người thuần hóa (tame humans) có khả năng tạo ra một lượng lớn dữ liệu và vận hành như những con chíp hiệu quả trong một cỗ máy xử lý dữ liệu khổng lồ, nhưng những con bò-dữ liệu này chẳng màng gì tới việc tối ưu hóa tiềm năng của con người. Đúng là chúng ta chẳng biết tiềm năng của con người có thể đạt đến đâu, vì chúng ta còn biết quá ít về tâm trí của con người. Thế mà chúng ta lại chẳng đầu tư mấy vào việc khám phá tâm trí con người, thay vào đó lại tập trung vào việc tăng tốc đường truyền Internet và hiệu quả của các thuật toán Big Data. Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ đâm đầu vào việc tạo ra những con người thoái hóa (downgraded humans) lạm dụng những hệ thống máy tính tiến hóa (upgraded computers) để tàn phá chính họ và tàn phá thế giới.

Lời người dịch: Vì đoạn này Yuval dùng chữ “tame humans” quá đắt làm tôi nhớ đến một đoạn mà D.H. Lawrence cũng dùng chữ “tame” trong phần cuối của cuốn “Lady Chatterley’s Lover”, mà tôi chép lại dưới đây.

“But won’t it ever come to an end?” she said.

“Ay, it will. It’ll achieve its own salvation. When the last real man is killed, and they’re all tame: white, black, yellow, all colors of tame ones: then they’ll all be insane. Because the root of sanity is in the balls. Then they’ll all be insane, and they’ll make their grand auto da fé. You know auto da fé means act of faith? Ay, well, they’ll make their own grand little act of faith. They’ll offer one another up.”

“You mean kill one another?”

“I do, duckie! If we go on at our present rate then in a hundred years’ time there won’t be ten thousand people in this island: there may not be ten. They’ll have lovingly wiped each other out.” The thunder was rolling further away.

“How nice!” she said.”

Thế giới

Thế giới đang ngày càng được thiết kế để gây thêm phiền não cho chúng ta. Hạnh phúc chẳng có chút ích lợi gì cho việc kinh doanh cả. Nếu chúng ta hạnh phúc với những gì chúng ta có, thì tại sao chúng ta phải cần thêm nữa? Làm sao anh bán được kem dưỡng da chống lão hoá? Anh làm người ta lo lắng về việc già đi. Làm sao anh lùa người ta đi bỏ phiếu cho một đảng chính trị? Anh khiến người ta sốt vó lên vì vấn đề nhập cư. Làm sao anh dụ được người ta mua bảo hiểm? Bằng cách làm người ta lo sợ về mọi thứ. Làm sao anh khiến được người ta đi phẫu thuật thẩm mỹ? Bằng cách nhấn mạnh vào các khuyết điểm ngoại hình của họ. Làm sao dụ họ xem TV? Khiến họ lo lắng rằng họ sẽ bỏ lỡ nhiều thứ nếu không xem. Làm sao bán một cái smartphone mới? Làm cho họ cảm thấy như thể họ đang bị bỏ lại đằng sau. Sống bình dị trở thành một kiểu hành động cách mạng. Sống hạnh phúc với sự tồn tại không-cần-nâng-cấp của bạn, sống thoải mái với những bản-thể-người đầy hỗn loạn của chúng ta, hoàn toàn không tốt cho việc kinh doanh một chút nào.

“The world is increasingly designed to depress us. Happiness isn’t very good for the economy. If we were happy with what we had, why would we need more? How do you sell an anti-ageing moisturiser? You make someone worry about ageing. How do you get people to vote for a political party? You make them worry about immigration. How do you get them to buy insurance? By making them worry about everything. How do you get them to have plastic surgery? By highlighting their physical flaws. How do you get them to watch a TV show? By making them worry about missing out. How do you get them to buy a new smartphone? By making them feel like they are being left behind. To be calm becomes a kind of revolutionary act. To be happy with your own non-upgraded existence. To be comfortable with our messy, human selves, would not be good for business.” 

Matt Haig, Reasons to Stay Alive

Ý nghĩa cuộc đời

Ảnh Mưa chụp, 2018

“Ý nghĩa của cuộc đời là đi tìm hạnh phúc” – bọn bất hạnh hay nói câu này.

“Ý nghĩa của cuộc đời là tiến hoá/trưởng thành/học hỏi” – bọn chưa tiến hoá/thiếu trưởng thành/ít học hay nói câu này.

“Cuộc đời hoàn toàn vô nghĩa” – bọn không tìm thấy ý nghĩa cuộc đời hay nói câu này.

“Ý nghĩa sự sống được con người duy trì trong bản thân họ như một nhiệm vụ. Nhiệm vụ này là duy nhất, riêng có, không thể thay thế và không thể bù đắp bằng bất cứ gì. Nhiệm vụ này mỗi người đều phải tự biết, ngoài họ ra không ai có thể biết thay họ. Việc thực hiện nhiệm vụ này không là gì khác ngoài hiện thực hoá ý nghĩa đời sống. Đấy là cái mà con người bằng đời sống của họ, trong đời sống của họ, từ đời sống của họ và vì đời sống của họ mà hành động.” – bọn đọc Hamvas Béla hay chép mấy câu này.

Lời nguyện cầu cho những người phản kháng

Chính phủ ban hành một vài dự luật. Nhiều người xuống đường biểu tình phản đối các dự luật đó. Nhiều người không xuống đường nhưng theo dõi sát sao việc xuống đường. Nhiều người phản đối, thậm chí mỉa mai việc xuống đường. Nhiều người phản đối những người phản đối. 

Những dòng tiếp theo đây không liên quan gì đến tất cả những nhóm người trên. Hoặc nếu có, thì liên quan ở một khoảng cách đủ xa để không dính líu gì đến lựa chọn và thái độ của họ. Đây chỉ là vài suy tưởng vụn của cá nhân tôi khi quan sát những điều đang diễn ra.

Tôi đã nghĩ nhiều về sự phản kháng từ khi còn là một cậu học sinh cấp 3 chán chường và cô độc. Và tôi bắt đầu phản kháng từ khi trở thành sinh viên đại học. Từ đó đến nay đã gần 20 năm, không một ngày nào tôi không phải là một kẻ phản kháng.

“Mỗi một hành động phản kháng đều biểu đạt một nỗi hoài niệm về sự hồn nhiên và là một lời thỉnh cầu hướng tới điều cốt lõi của đời sống. (Every act of rebellion expresses a nostalgia for innocence and an appeal to the essence of being.)

– Albert Camus

Là một kẻ phản kháng, tôi đặt câu hỏi về mọi thứ có ý định áp đặt luật lệ/khuôn khổ/định hướng lên tôi: gia đình, nhà trường, xã hội, luật pháp, chính phủ, người yêu, bạn bè, đồng nghiệp, hay một người xa lạ bất kỳ. Tôi đã bỏ ra một khối năng lượng khổng lồ để có thể ngày càng trở nên độc lập hơn với tất cả những điều đó. Mục tiêu tối thượng của tôi, và cũng là điều tôi thực hành mỗi ngày, là không một ai, hay bất kỳ thể chế nào, trong bất kỳ tình huống nào, có thể chi phối hay điều khiển mình. 

Lúc đầu tôi không biết mình phản kháng để làm gì. Tôi chỉ khó chịu, cáu bẳn và tức giận, với mọi thứ và hầu hết mọi người. Nhưng dần dần thái độ đó làm tôi trở nên kiệt sức và chai lì cảm xúc. Quan trọng hơn, tôi không muốn mình rơi vào trạng thái phản xạ tự động: phản kháng bất kỳ điều gì mà mình cho là không đúng. Tôi ngày càng ý thức hơn về hiểu biết hạn hẹp của mình: những điều tôi cho là không đúng cũng có thể đúng lắm chứ. 

Qua thời gian, mong muốn được đúng của tôi vẫn còn y nguyên, và là nguyên động lực giúp tôi ngày càng đến gần sự thật. Nhưng mong muốn chứng minh/khẳng định người khác sai trong tôi đã giảm đi theo năm tháng. Cho đến bây giờ, tôi đã đi đến chỗ hiểu rằng mỗi người, ở một thời điểm nhất định, trước một sự việc nhất định, đều đúng theo góc nhìn của mình, và lựa chọn hành động trong giới hạn nhận thức của mình.

Một người phản kháng là kẻ yêu cuộc đời này sâu sắc và thực sự quan tâm đến những gì đang vận hành ở tận trung tâm của đời sống này. Kẻ đó, bằng sự kiên nhẫn và dũng cảm thực hành phản kháng, sớm muộn sẽ biết cách lùi xa khỏi những cơn sóng không ngơi nghỉ trên mặt nước, để tập trung hơn vào những gì nằm ở cốt lõi ở những tầng sâu hơn. Vẫn là Camus:

“Sự phản kháng không thể tồn tại mà không có một kiểu tình yêu kỳ lạ” (Rebellion cannot exist without a strange form of love.)

Và ở một trong những tầng sâu đó, tôi khám phá ra Niềm vui và Cái đẹp. Tôi nhận ra rằng, ngày nào mà tôi sống vui và sống đẹp, ngày đó tôi đang thực hành phản kháng triệt để. 2500 năm trước, sống giữa thời loạn Xuân Thu và Chiến Quốc, Trang Tử đã chọn cách sống đó. 2500 năm sau, trong một thế giới “hiện đại” với hệ thống kinh tế-xã hội toàn cầu được thiết kế tinh vi bởi các nhóm lợi ích chóp bu (Các Tập đoàn Lớn, Chính phủ Lớn) để con người ngày càng đau khổ hơn, tức giận hơn, bất lực hơn và xấu xí hơn (trong khi vẫn liên tục được rao giảng và hứa hẹn về niềm vui và cái đẹp), câu trả lời vẫn không thay đổi: Người sống hạnh phúc là kẻ phản kháng trọn vẹn nhất. Và việc sống hạnh phúc của người đó, dù vô ngôn, trở thành một lời nguyện cầu chân thực nhất, mạnh mẽ nhất, hiến dâng cho đời sống diệu kỳ này. 

Đến đây, một lần nữa, tôi lại nhớ Camus – ông đã viết quá hay điều tôi định giãi bày:

“Cái Đẹp, hẳn rồi, chẳng làm nên được cuộc cách mạng nào. Nhưng sẽ đến một ngày mà những cuộc cách mạng sẽ phải cần đến cái đẹp.” (Beauty, no doubt, does not make revolutions. But a day will come when revolutions will have need of beauty.)

dòng tôi đang chảy

Lâu rồi tôi không ngừng lại để quan sát chính mình. Hay nói đúng hơn, việc quan sát chính mình của tôi đã trở thành thói quen ăn sâu đến mức, giống như việc thở, tự động diễn ra bất kể tôi có ngừng lại hay không. Lâu rồi tôi không ngừng lại xem tôi đang thở thế nào.

Tôi biết mình đang dịch chuyển. “Dịch” là một từ có nội hàm sâu xa và rộng lớn, đến mức từ cổ xưa đã có hẳn một pho Kinh Dịch ẩn tàng nhiều lớp quặng tri trức mà con người ngày nay vẫn còn đang miệt mài khai quật. Minh triết cổ và vật lý hiện đại đã đi đến chỗ đồng quy: vũ trụ vốn rỗng không, cái Không dịch chuyển mà thành ra các hạt, các hạt dịch chuyển mà thành ra vật chất. Suy nghĩ là dịch chuyển thông tin. Cảm nhận là dịch chuyển năng lượng. Sinh sản là dịch chuyển nguồn gen. Một nốt nhạc vang lên. Rồi vang lên lần nữa. Nhưng mọi chuyện đã đổi thay.

Tôi cũng đổi thay. Ngày càng nhanh và nhiều đến mức khó mà nắm bắt và liệt kê hết được. Bất cứ lúc nào tôi muốn định nghĩa chính mình, tôi buộc phải làm đông cứng dòng chảy, cắt ra một lát nhỏ, quan sát và miêu tả lát cắt đó, hòng làm rõ một vài thuộc tính, một số đặc điểm. Nhưng chừng nào tôi còn sống, chừng nào dòng chảy tiếp tục chảy trôi, thì chẳng mấy chốc mà các đặc điểm hay thuộc tính đó sẽ không còn ở đó nữa.

Borges viết: “Thực ra tôi không chắc là tôi tồn tại. Tôi là mọi nhà văn tôi đã đọc, mọi con người tôi đã gặp, mọi phụ nữ mà tôi đã yêu, mọi thành phố tôi đã đến.” Tôi là mọi thứ, đồng thời cũng không là gì. Tôi là sự dịch chuyển, là sự tổng hòa, là sự tương hợp của triệu triệu cơ duyên. Việc định nghĩa tôi là ai liệu có chút nào quan trọng trong dòng chảy miên viễn ấy?

“Tôi không có quy lệ thường ngày và lịch sử cá nhân. Đến một ngày tôi nhận ra chúng chẳng còn cần cho tôi nữa và, cũng giống như rượu, tôi bỏ chúng. Người ta nên có mong muốn bỏ chúng đi và nên bắt đầu bỏ chúng từng chút một, một cách nhẹ nhàng. Nếu bạn không có lịch sử cá nhân, sẽ chẳng có gì phải giải thích; không ai tức giận hay vỡ mộng về hành vi của bạn. Và hơn hết thảy không ai đóng khung bạn bằng suy nghĩ của họ. Tốt nhất là nên xóa hết lịch sử cá nhân, vì điều đó giúp chúng ta được tự do khỏi bao nhiêu suy tưởng ngổn ngang của người khác. Một cách từ từ, tôi đã tạo ra một lớp sương mờ xung quanh mình và cuộc đời của mình. Và không ai thực sự biết tôi là ai hay tôi làm gì. Kể cả tôi. Làm sao tôi biết được tôi là ai, nếu tôi là tất cả những điều này?”

Tôi thực sự đồng cảm với đoạn viết trên của Carlos Castaneda. Hôm nay tôi ngồi đọc hàng trăm câu trả lời từ một form câu hỏi mà tôi đã ngẫu hứng tạo ra. Tôi nhận ra mình hồi đó. Tôi thấy mình bây giờ. Tôi gặp mình trong suy nghĩ, trong sợ hãi, trong niềm tin của người khác. Dù họ kể về họ hay về tôi, dù là một ý nghĩ thoáng qua hay là cả một bầu tâm sự tràn trề, dù là những mảng màu sáng trong hay u tối, tôi đều nhận ra các mảnh ghép của mình. Chúng ta đều là các mảnh ghép của nhau. Chúng ta là từng sợi tơ đan vào nhau dệt nên tấm lụa đời sống. Chúng ta là muôn vạn hình thái của nước: sương sớm, mưa rào, băng tuyết, suối, sông, mạch ngầm, thác đổ… để rồi tất cả đều chảy về đại dương.

“Tôi nghĩ về tôi như là một kẻ mãi mãi kỳ quặc, một linh hồn cô đơn, một gã lang thang, một nghệ sĩ quay quắt không ngơi nghỉ, một người đang trong tình yêu với tình yêu, luôn luôn trên đường tìm kiếm cái tuyệt đối, luôn luôn theo đuổi những điều không thể đạt được.” – Chẳng phải vì chúng ta tương thông nối kết, mà Henry Miller đã có thể viết đoạn trên về ông chân thành và chuẩn xác y như viết về tôi, hay về bất kỳ ai đang đọc những dòng này, đó sao?

Bùi Giáng

Tranh Đinh Cường, 1998

Nếu đọc Bùi Giáng bằng con mắt thông thường, sẽ thấy nhiều trang ông viết nhăng viết cuội, viết tràng giang đại hải, viết “liên tồn lai láng”, viết “song trùng tịch hạp lai rai”. Ông gọi tên từ Marilyn Monroe tới Heidegger, từ Nguyễn Du tới Nhất Hạnh, từ Zarathustra tới… Bùi Giáng. Dòng trước ông kêu chép thơ, dòng sau ông bảo thơ cháy hết rồi nên không chép nữa. Trang trước ông đang ở cõi uyên nguyên tinh thể, trang sau đã thấy ông tồn lưu lộn lời. Vậy mà trước 1975, ông viết cái gì cũng có người in, cũng có người đọc. Vì ông là Bùi Giáng, một trong những Thi sĩ Thiêng liêng (Poeta Sacer) cuối cùng của Việt Nam và thế giới. 

Đó là thời mà viết sách và in sách còn là một cái gì được coi trọng, thơ văn còn là một thế giới tinh thần cao nhã, viết ra một Lời được người khác lắng nghe còn là một cái gì thiêng liêng, và người viết còn hoàn toàn xứng đáng với tầm ảnh hưởng và sự nổi tiếng của họ. Còn bây giờ, giữa (hay cuối?) mùa đông của nhân loại, trật tự thiêng đảo lộn, đít lộn lên đằng đầu, giun sán mong ngày hoá bướm. Những loài thấp kém, bẩn thỉu, hèn hạ vốn được sinh ra để sống trong hang hốc, giờ chui lên đòi được lắng nghe. Và đúng là chúng được lắng nghe: triệu triệu vi khuẩn vỡ oà nô nức đi theo chúng. 

“Không có gì ghê gớm, họ nói. Tất cả mọi người đều có thể trở thành kẻ cai trị, đều có thể trở thành linh mục, thành bác học, nghệ sĩ. Tất cả chúng ta đều như nhau. Tất cả chúng ta đều biết tất cả, và nếu chúng ta không biết, chúng ta học. Như thể tính chất vua chúa, tính chất đại quý tộc và tính chất tăng lữ đều có thể học được. Khi các vị vua nghe thấy điều này, họ thoái vị; các linh mục, các nhà bác học, các chính khách đều làm như vậy. Một vài người khác cất tiếng, họ liền bị xé xác. Những người còn lại bèn bảo: nếu các anh cần quyền lực, thì các anh hãy thành kẻ cai trị đi; nếu các anh cần thành quý tộc, thì các anh hãy thành quý tộc đi. Làm sao khác được?”

Thi sĩ Thiêng liêng, trích tập tiểu luận “Câu chuyện vô hình và Đảo”, Hamvas Béla, Nguyễn Hồng Nhung dịch.

Chỗ này đành chép thơ Tuệ Sỹ:

“Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn”