Endgame: nhìn từ Việt Nam

Bằng một phong thái đĩnh đạc, trên nền nhạc bi tráng hào hùng, Thanos từ từ đưa Găng Tay Vĩnh Cửu lên, trước khi búng tay kết thúc, thong thả đưa ra một kết luận đầy tính triết học-tâm linh:

Ta là… điều không thể tránh.

Nhưng có búng tay bao nhiêu thì vẫn chưa kết thúc, bởi toàn bộ đá Vĩnh Cửu đã chuyển sang một bàn tay khác. Đến lượt Tony Stark từ từ đưa tay mình lên, thủng thẳng buông một vế đối vô tiền khoáng hậu:

Ta là… Iron Man.

Đây là câu thoại hàm hỗn thênh thang nhứt trong lịch sử các câu thoại của Holywood. Bởi nó tóm gọn toàn bộ tinh thần, toàn bộ tâm thế, toàn bộ thái độ sống không phải chỉ của một Iron Man, không chỉ của đế chế điện ảnh tạo ra Vũ trụ Marvel, mà là thái độ chung của toàn bộ loài người, loài động vật mà người Mỹ tự trao cho mình cái quyền đại diện. Đó là thái độ tự phụ ngông cuồng của con người trước thiên nhiên, và ý chí gan bướng lỳ lợm của hắn trước vũ trụ. Hắn không màng gì mạng sống của chính mình đã đành, hắn cũng chẳng màng chi số phận hẩm hiu của hành tinh hay nhân loại (như hắn vẫn rất mực khăng khăng thuyết phục mình và người khác). Cái hắn quan tâm? Là chính hắn. Căn tính hắn, bản ngã hắn, sự thật của hắn: niềm tin của hắn vào cái mà hắn cho là đúng, là hay, là tốt đẹp. Dù có tiêu hủy đến hạt bụi cuối cùng trong vũ trụ, thì hắn vẫn phải khẳng định cho bằng được, tao đây, tao nè, tao đã đến đây và tao đã làm điều ấy đó, rồi sao?

Còn người Việt Nam? Người Việt Nam lũ lượt kéo nhau ra rạp, lũ lượt góp tiền cho Marvel tiếp tục mần thêm phim, và, búng nhẹ tay trước khi uống cốc trà sữa thứ ba trong ngày, người Việt Nam hềnh hệch mà rằng:

Ta là… cái đéo gì cũng được. Hihi.

Khổ, Đau và Trung Thực

KHỔ

Chúng ta quá quy hướng vào chính ta. Ta sống trong vỏ ốc của tự ngã, ngày càng lớn theo ta, cơ hồ không lột bỏ được. Dường như ta mang nó theo suốt đời, từ tấm bé đến ngày nhắm mắt. Tuy nhiên, thiên nhiên vẫn hiến cho ta nhiều cơ hội đập vỏ bước ra, và cơ hội đầu tiên, thuận tiện nhất, là khi ta bước vào thời hoa niên. Đó là lần đầu tiên cái tôi của ta thoạt biết có “người khác”. Tôi muốn nói đến sự thức tỉnh của dục tình. Một cái tôi, tưởng là toàn nguyên, là bất khả phân, giờ đây như tự chẻ đôi ra. Tình yêu bấy lâu ngủ say trong đáy tim vươn mình lên, và gây bạo động. Vì đây là lúc vừa dấy lên, tình yêu đòi hỏi ngay, cùng một lúc, vừa xác định cái tôi, vừa trừ bỏ cái tôi. Tình yêu khiến cái tôi tự mất đi trong đối tượng nó yêu, nhưng đồng thời cũng đòi quyền chiếm hữu đối tượng ấy. Thật là mâu thuẫn, và chính mâu thuẫn ấy là một đại bi kịch của nhân sinh. Cảm giác căn bản ấy có lẽ là nguyên động lực thúc giục loài người hướng thượng. Thượng Đế ban khổ cho con người để hoàn tất con người.” – D. T. Suzuki, Thiền Luận, Trúc Thiên dịch


ĐAU

Bạn có thể thử kháng cự và bảo vệ mình khỏi sự đau. Và bạn có thể thành công ở một chừng mực nào đó. Nếu bạn nỗ lực hết mình, bạn thậm chí có thể ngăn chặn nỗi đau, không cho nó được cảm thấy. Nhưng rồi bạn sẽ không bao giờ nhận ra, bất hạnh thực sự chính là việc không cho phép nỗi đau chạm vào mình. Nỗi đau ở đó cho bạn, không phải để chống lại hay hành hạ bạn.


TRUNG THỰC

Để tôi nói với bạn tại sao bạn nên trung thực. Bởi vì bạn không thể lừa dối. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối suy nghĩ của bạn, bạn cũng không thể lừa dối cảm xúc của bạn. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối cảm xúc của bạn, bạn cũng không thể lừa dối cơ thể của bạn. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối cơ thể của bạn, bạn cũng không thể lừa dối tinh thể (being/spirit) của bạn. Vì tinh thể của bạn luôn luôn biết cái gì là thật và cái gì là giả. Và nếu bạn cứ cố gắng tiếp tục lừa dối bản thể của mình (thường thì vì bạn quá sợ đau, sợ khổ), nó sẽ giống như là tự tử: bạn đang phá hủy chính mình. Cho nên để sống trọn vẹn, sống cho ra sống, chỉ còn một cách trung thực mà thôi.

Cái chết của loài Ong

Hôm nay anh đọc một bài báo về việc các loài côn trùng đang lặng lẽ biến mất. Anh bỗng thần người ra, nhớ về những lần bị ong đốt hồi nhỏ (thường là lúc đang phá tổ ong), những khi ngồi nhìn đàn kiến di chuyển hàng tiếng đồng hồ (thường là trước khi chọc tổ kiến), những lúc thức khuya rủ nhau đi xem ve sầu lột xác (rồi thử kéo con ve non ra khỏi vỏ để đến nỗi cánh nó bị cháy và không bay được nữa). Rồi những châu chấu cào cào bị bắt làm mồi câu cá, những dế mèn bị bắt đá nhau, những cánh cam, bọ rùa, bọ xít, bọ hung, bươm bướm, chuồn chuồn… cả một thế giới côn trùng xinh đẹp và bí ẩn, vừa là đối tượng để chiêm ngắm, vừa là nạn nhân của sự dã man vô thức của đám trẻ nít bọn anh.

Anh không biết mình đã góp bao nhiêu phần trong số 80-90% các loài côn trùng đã biến mất khỏi bề mặt trái đất trong 20 năm qua. Dù chỉ là một phần tỉ tỉ, thì anh cũng đã góp phần vào đó. Mà đó chỉ mới là những gì anh nhìn thấy, anh nhớ về, anh ý thức được. Phần lớn hệ quả từ hành động của anh hàng ngày, anh hoàn toàn không hay biết. Anh cứ sống, và những con ong cứ chết.

Điều đó sẽ chẳng can hệ gì nếu anh không nhớ và không buồn. Nhưng cảm xúc tự đến: Tự Nhiên không cho phép anh trốn chạy. Chúng thúc giục anh ngước nhìn lên tán cây từ cửa sổ một quán quen, chúng cho anh chút mừng vui khi nhìn thấy bầy ong vàng đang hăng say làm việc – loại niềm vui nghẹn ngào khó tả như gặp lại một người bạn thiết đã quá lâu không gặp – để rồi, gần như ngay lập tức, chúng nhúng anh vào một nỗi buồn sâu thẳm, rằng đây rất có thể là một trong những tổ ong cuối cùng mà anh được nhìn ngắm, rằng sau này, kể cả khi anh muốn được ong đốt (chứ không phải bị), thì cũng không còn ai ở đó để mà đốt anh.

Chúng ghim vào tim anh một cú đau nhói để cho anh nhớ, bởi vì, dù anh không còn quá ngu nhưng lại có một trí nhớ quá tồi: cái chết của ong cũng chính là cái chết của anh.

Lời nguyện cầu cho những người phản kháng

Chính phủ ban hành một vài dự luật. Nhiều người xuống đường biểu tình phản đối các dự luật đó. Nhiều người không xuống đường nhưng theo dõi sát sao việc xuống đường. Nhiều người phản đối, thậm chí mỉa mai việc xuống đường. Nhiều người phản đối những người phản đối. 

Những dòng tiếp theo đây không liên quan gì đến tất cả những nhóm người trên. Hoặc nếu có, thì liên quan ở một khoảng cách đủ xa để không dính líu gì đến lựa chọn và thái độ của họ. Đây chỉ là vài suy tưởng vụn của cá nhân tôi khi quan sát những điều đang diễn ra.

Tôi đã nghĩ nhiều về sự phản kháng từ khi còn là một cậu học sinh cấp 3 chán chường và cô độc. Và tôi bắt đầu phản kháng từ khi trở thành sinh viên đại học. Từ đó đến nay đã gần 20 năm, không một ngày nào tôi không phải là một kẻ phản kháng.

“Mỗi một hành động phản kháng đều biểu đạt một nỗi hoài niệm về sự hồn nhiên và là một lời thỉnh cầu hướng tới điều cốt lõi của đời sống. (Every act of rebellion expresses a nostalgia for innocence and an appeal to the essence of being.)

– Albert Camus

Là một kẻ phản kháng, tôi đặt câu hỏi về mọi thứ có ý định áp đặt luật lệ/khuôn khổ/định hướng lên tôi: gia đình, nhà trường, xã hội, luật pháp, chính phủ, người yêu, bạn bè, đồng nghiệp, hay một người xa lạ bất kỳ. Tôi đã bỏ ra một khối năng lượng khổng lồ để có thể ngày càng trở nên độc lập hơn với tất cả những điều đó. Mục tiêu tối thượng của tôi, và cũng là điều tôi thực hành mỗi ngày, là không một ai, hay bất kỳ thể chế nào, trong bất kỳ tình huống nào, có thể chi phối hay điều khiển mình. 

Lúc đầu tôi không biết mình phản kháng để làm gì. Tôi chỉ khó chịu, cáu bẳn và tức giận, với mọi thứ và hầu hết mọi người. Nhưng dần dần thái độ đó làm tôi trở nên kiệt sức và chai lì cảm xúc. Quan trọng hơn, tôi không muốn mình rơi vào trạng thái phản xạ tự động: phản kháng bất kỳ điều gì mà mình cho là không đúng. Tôi ngày càng ý thức hơn về hiểu biết hạn hẹp của mình: những điều tôi cho là không đúng cũng có thể đúng lắm chứ. 

Qua thời gian, mong muốn được đúng của tôi vẫn còn y nguyên, và là nguyên động lực giúp tôi ngày càng đến gần sự thật. Nhưng mong muốn chứng minh/khẳng định người khác sai trong tôi đã giảm đi theo năm tháng. Cho đến bây giờ, tôi đã đi đến chỗ hiểu rằng mỗi người, ở một thời điểm nhất định, trước một sự việc nhất định, đều đúng theo góc nhìn của mình, và lựa chọn hành động trong giới hạn nhận thức của mình.

Một người phản kháng là kẻ yêu cuộc đời này sâu sắc và thực sự quan tâm đến những gì đang vận hành ở tận trung tâm của đời sống này. Kẻ đó, bằng sự kiên nhẫn và dũng cảm thực hành phản kháng, sớm muộn sẽ biết cách lùi xa khỏi những cơn sóng không ngơi nghỉ trên mặt nước, để tập trung hơn vào những gì nằm ở cốt lõi ở những tầng sâu hơn. Vẫn là Camus:

“Sự phản kháng không thể tồn tại mà không có một kiểu tình yêu kỳ lạ” (Rebellion cannot exist without a strange form of love.)

Và ở một trong những tầng sâu đó, tôi khám phá ra Niềm vui và Cái đẹp. Tôi nhận ra rằng, ngày nào mà tôi sống vui và sống đẹp, ngày đó tôi đang thực hành phản kháng triệt để. 2500 năm trước, sống giữa thời loạn Xuân Thu và Chiến Quốc, Trang Tử đã chọn cách sống đó. 2500 năm sau, trong một thế giới “hiện đại” với hệ thống kinh tế-xã hội toàn cầu được thiết kế tinh vi bởi các nhóm lợi ích chóp bu (Các Tập đoàn Lớn, Chính phủ Lớn) để con người ngày càng đau khổ hơn, tức giận hơn, bất lực hơn và xấu xí hơn (trong khi vẫn liên tục được rao giảng và hứa hẹn về niềm vui và cái đẹp), câu trả lời vẫn không thay đổi: Người sống hạnh phúc là kẻ phản kháng trọn vẹn nhất. Và việc sống hạnh phúc của người đó, dù vô ngôn, trở thành một lời nguyện cầu chân thực nhất, mạnh mẽ nhất, hiến dâng cho đời sống diệu kỳ này. 

Đến đây, một lần nữa, tôi lại nhớ Camus – ông đã viết quá hay điều tôi định giãi bày:

“Cái Đẹp, hẳn rồi, chẳng làm nên được cuộc cách mạng nào. Nhưng sẽ đến một ngày mà những cuộc cách mạng sẽ phải cần đến cái đẹp.” (Beauty, no doubt, does not make revolutions. But a day will come when revolutions will have need of beauty.)

Dù sao vẫn còn nghệ thuật

Four Trees, by Egon Schiele, 1917

Tôi nhớ những ngày mùa thu năm ngoái, lang thang qua những bảo tàng viện kỳ vỹ ở Vienna, tôi đã dừng lại rất lâu ở một triển lãm nhỏ, trong một bảo tàng nhỏ. Nhỏ thôi, nhưng cái tên còn ở lại mãi: “Dù sao vẫn còn nghệ thuật!”. (And yet there was art!).

Dấu chấm than ở cuối dòng chữ đó mới mạnh mẽ làm sao. Mạnh mẽ lắm, bởi nó khẳng định sự quả cảm của con người, và sức mạnh cứu rỗi của nghệ thuật, trong chiến tranh. Triển lãm trưng bày các tác phẩm của các tác giả Áo được sáng tác trong thời kỳ 1914 – 1918, những năm diễn ra Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Trong đó, nổi bật nhất là hoạ sĩ mà tôi yêu kính, Egon Schiele. Cùng nhiều hoạ sĩ trẻ khác cùng thời kỳ, Schiele bị buộc phải dấn thân vào chiến tranh mà không biết điều gì đang chờ đợi mình. Ngày 10/7/15, trải qua một năm chiến tranh, ông viết thư cho mẹ: “Bao giờ thì cuộc chiến tranh khủng khiếp này sẽ kết thúc – đây phải chăng là thời kỳ khốn khổ nhất mà loài người từng trải qua – rốt cuộc chúng ta đến Trái Đất này làm gì?”

Cùng nhiều hoạ sĩ khác, những lúc không cầm súng, Schiele cầm cọ vẽ. Ông vẽ lại những đớn đau dằn vặt, những bạo lực kinh hoàng, không chỉ bên ngoài, mà còn bên trong nữa. Ông vẽ, để vượt lên trên chiến tranh. Súng đạn không giết được ông, nhưng thiếu nghệ thuật, hẳn là ông sẽ chết, chết sớm hơn cả lúc căn bệnh Cúm Tây Ban Nha quật ngã ông, đúng vào năm cuối của cuộc chiến. Schiele chưa kịp thấy hoà bình, cũng chưa kịp chứng kiến chỉ hai chục năm sau, nhân loại lại kéo nhau vào một cuộc chiến còn lớn hơn, lâu hơn, khủng khiếp hơn nữa.  

Chiến tranh… đa số chúng ta đều không hiểu nó là gì. Cuộc chiến lớn nhất đã lùi vào quá khứ hơn nửa thế kỷ trước. Cuộc chiến gần nhất của đất nước này cũng đã kết thúc cách đây 40 năm. Đã qua rồi những tang thương mất mát, những thảm khốc kinh hoàng. Nhưng, có thật như thế không?

Chuck Palahniuk trong Fight Club từng nói: “Chúng ta là những đứa con hoang của lịch sử, bạn thân mến. Không nơi chốn hay mục đích. Không Đại Chiến. Không Đại Khủng Hoảng. Cuộc Đại Chiến của chúng ta là một cuộc chiến tinh thần… Và cuộc Đại Khủng Hoảng của chúng ta chính là cuộc đời chúng ta.” 

Trên thực tế, nằm sâu bên dưới tất cả những bình yên không súng đạn, dưới những đầy đủ vật chất, dưới những tiện nghi công nghệ, chiến tranh vẫn đang diễn ra. Tâm trí bạn, tâm trí tôi, tâm trí chúng ta vẫn đang nuôi dưỡng vô số những cuộc chiến tranh lớn nhỏ. Chúng ta đang đau khổ vì những cuộc “nội chiến” ấy nhiều hơn bất kỳ cuộc chiến tranh vật lý nào khác.

Và đó là lúc nghệ thuật thực hiện vai trò cao quý của mình. Nghệ thuật sáng tạo, nghệ thuật kết nối, nghệ thuật chữa lành. Nghệ thuật giúp ta tìm lại bản thể của chính mình vốn đã trốn biệt tăm vì quá sợ hãi. Nghệ thuật giúp ta chạm vào người khác, chạm vào chính mình, để hiểu rằng chúng ta chưa từng xa nhau. Và nghệ thuật, bằng một cách kỳ diệu chỉ vũ trụ mới hiểu, chữa lành cho linh hồn chúng ta, hàn gắn những vết thương cho chúng ta, và dâng tặng cho chúng ta những giây phút bình an. 

Thư cuối năm viết cho em từ đảo

Em thương,

Mấy hôm nay anh ở ngoài đảo. Anh sống cùng với một gia đình ngư dân nơi một eo biển vắng trong bốn ngày. Họ cho anh ở, cho anh ăn, cho anh đi theo đánh cá, bày cho anh lặn ốc, bắt cua, và cho anh được ngủ trên ghe của họ. Ở trên đảo, anh được leo núi, lặn ngắm san hô, và ngồi đọc sách hàng giờ bên bờ biển.

Anh sẽ không kể cho em làm sao anh lại đến được nơi này: thực ra rất dễ, chỉ cần em tránh xa những tour du lịch, những con đường nhựa phẳng lì, những resort cao cấp, những trò giải trí bày sẵn. Chỉ cần em đi thật xa, đến một nơi vắng người, trò chuyện với họ, và ngỏ ý xin ở lại cùng họ vài ngày. Anh tin rằng không những sẵn lòng đón em, họ còn thiết đãi em bằng tất cả những gì họ có.

Anh muốn nói với em nhiều hơn, về cách chúng ta sống. Bởi những ngày trên đảo anh càng vui sướng bao nhiêu, anh càng nghĩ đến thân phận của chúng ta – những con người thành thị – bấy nhiêu. Anh nghĩ chúng ta thật đáng thương. Chúng ta như những chú chuột lang cứ mải miết chạy trong cái lồng xoay do chính chúng ta dựng lên. Chúng ta quá coi trọng đồng tiền, quá coi khinh thời gian và sức khỏe. Chúng ta chạy như điên cho đến khi mệt rũ, chỉ để nhận ra rằng mình đã lún sâu hơn vào vòng xoáy của cái mà chúng ta nghĩ là cuộc sống.

Cái chúng ta nghĩ là cuộc sống chỉ là một mẩu rất nhỏ của cuộc sống rực rỡ thực sự. Em sẽ hiểu điều đó khi em ngước lên bầu trời đầy sao nằm đợi trăng lên. Em sẽ hiểu khi em bơi theo đàn cá đủ màu đang tung tăng giữa rặng san hô. Em sẽ hiểu điều đó khi em trò chuyện với nhiều người đến từ nhiều thế giới khác, từ nhiều cách sống khác. Em sẽ hiểu điều đó khi – nhất là khi – em ở một mình.

Em sẽ hiểu rằng điều quý giá nhất trên đời là việc SỐNG TRỰC TIẾP. Chúng ta đến đây để trải nghiệm, và trải nghiệm chỉ có được khi em nếm, chạm, tương tác trực tiếp với dòng chảy sống động xung quanh em. Em vẫn còn biết ngạc nhiên, còn biết khám phá, còn biết phiêu lưu. Con người trong sáng nhạy cảm đó ở trong em chưa bao giờ chết. Nó chỉ ngủ quên, bởi chúng ta đã sống gián tiếp bao lâu rồi. Ta ăn thức ăn đã qua quá nhiều khâu xử lý độc hại, ta uống thức uống đầy hóa chất, ta nạp vào người những ý tưởng, những cảm xúc, những câu chuyện đã được nhào nặn, thổi phồng, tung hứng qua bao nhiêu chiêu trò giáo dục, truyền thông. Ta bị nhét (và tự nhét) vào đầu hàng tỉ thứ công thức/định nghĩa, đến mức ta nghĩ rằng ta biết thế nào là ngon, là hay, là bổ, là tốt. Và rằng tất cả những thứ đó có thể mua được bằng tiền.

Em nghĩ rằng em sẽ dễ chịu và an toàn khi có tiền. Nhưng tiền có vẻ như không bao giờ đủ. Em thậm chí còn không dễ chịu trong cái gọi là vùng-dễ-chịu (comfort zone) của chính mình. Em sợ. Em nghĩ là bước ra khỏi vùng dễ chịu đó, không nhận tháng lương tiếp theo, không uống lon nước ngọt kế tiếp, không lên tiếng về hoa hậu hay đội tuyển quốc gia, em sẽ không sống nổi. Sự thật là ngược lại: ngay khi em tự cho phép mình rời khỏi vòng xoay – đó sẽ là lần đầu tiên em sống.

Cuộc sống vốn bất định – chính vì bất định nên rực rỡ. Ngay khi em công thức hóa, an toàn hóa, dễ chịu hóa nó – chính là em đang làm hẹp nó. Để sống thực sự, em không cần phải làm gì quá nhiều. Việc của em, chỉ là dũng cảm.

Chúc em một năm mới dũng cảm kiên cường!

Anh,

ngang đây một lúc thôi

Để anh nói với em điều gì đã xảy ra trên thế giới khi em không lưu tâm đến nó. Chính xác là những điều đã luôn xảy ra: KHÔNG GÌ CẢ.

Không gì thay đổi từ khi em chưa sinh ra. Vũ trụ nở ra rồi co lại. Đền đài xây lên rồi đổ nát. Con người gần lại rồi xa nhau. Em chưa từng bỏ lỡ một giây nào: tất cả những gì đang xảy ra trước mắt em đã xảy ra muôn triệu lượt.

Nhưng, theo một cách kỳ diệu nào đó, lần nào cũng là lần đầu tiên, và lần nào cũng là lần cuối.

Khi em ngắm nhìn thật kỹ người đối diện, dù đó là mẹ, là cha, là anh em, hàng xóm, bạn thân, người lạ đi cùng xe buýt, hay một người khác màu da phía bên kia trái đất, em sẽ luôn thấy những nét quen. Dường như ta từng quen nhau, ta vốn từng chung một nguồn gốc, nói chung một ngôn ngữ, chia chung một linh hồn. Rời xa nhau lúc trước, gặp lại nhau bây giờ. Riêng điều đó chẳng đã đủ kỳ diệu sao?

Thế giới vốn là một nơi kỳ diệu. Em đừng nghe bất kỳ ai nói khác đi.