Untitle

Naoki Urasawa, tác giả của bộ truyện tranh Monster, từng viết một bộ truyện tranh khác dài hơn, tham vọng hơn, chưa từng xuất bản ở Việt Nam, là bộ 20th Century Boys. Trong bộ này, có một con rô-bốt khổng lồ, trông bề ngoài rất hoành tráng và hùng mạnh. Nhưng nếu chỉ cần nhìn ra đằng sau lưng nó, sẽ thấy một mớ rác rưởi bùng nhùng, tả tơi toàn là giẻ rách, sắt vụn. Con rô-bốt ấy, theo chỗ tôi hiểu, là ẩn dụ mạnh mẽ cho cái gọi là nền văn minh của con người. Nền văn minh này, và hầu hết những gì nó sản xuất ra, chỉ tạo nên được những giá trị ghê gớm bóng bẩy trên bề mặt, để hù dọa những kẻ nhát gan, để lừa bịp những kẻ tham lam ngu muội. Ở bên trong – ở đằng sau – thảy đều đang lung lay và thối rữa.


Tôi viết những dòng này khi thấy khắp nơi quanh mình những con rô-bốt được dựng lên, được nuôi lớn, và từ bên trong mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Chẳng cần nhìn, chỉ cần ngửi, có thể nghe mùi rác rưởi, mùi của thoái hóa, của băng hoại, của sự sa đọa, của sự giả tạo, độc ác, ngu si, của mọi phần tối tăm nhất của con người. Có những nơi, những phần này được đắp điếm tốt hơn, trang điểm mỹ miều hơn, xịt nước thơm kỹ càng hơn. Có những nơi, chúng cứ lòi ra một cách thô lậu, vì những con rô-bốt xịn nhất cũng vẫn còn chưa đủ tinh vi. Hoặc chỉ đơn giản là chúng chẳng thèm quan tâm, bởi cư dân chốn ấy vốn sinh ra đã dễ dãi và thờ ơ.


Khi cơ thể gặp chất độc qua đường tiêu hóa, nó tạo ra phản ứng nôn mửa để đẩy chất độc ra ngoài. Sự độc hại của cái gọi là nền văn hóa/văn minh này chảy tràn vào từ mọi ngõ ngách, mà việc viết ra mấy dòng này chỉ là nỗ lực tuyệt vọng để thải độc. Cần phải rất, rất mạnh để có thể sống ở trong vũng bùn này, rồi chuyển hóa nó thành hoa sen. Thường, bùn chỉ tạo thêm bùn. Giống như chuyện những con khỉ trên đảo cứt.


Không buồn, cũng chẳng phải cay đắng hay bi quan, chỉ là một cảm giác trống rỗng, đứt gãy, khô nẻ. Cảm giác đối diện với sự thối rữa của con người, kẻ đã lỡ nhìn xuyên qua những lớp vỏ lấp lánh. Cảm giác của một người trên sa mạc khác như thế này – Saint Éxupéry đã kể lại điều đó. Cảm giác của kẻ dưới giếng của Murakami, hay tên dưới hầm của Dostoevsky, hay gã lang thang của Hesse, cũng đều không như thế. Không một nhân vật nào diễn tả được cảm giác này, vì chưa ai từng sống ở nơi đây, trong bối cảnh này, thời đại này.


Chỉ rất ít người hiểu được cảm giác này. Đó hầu hết là những con bệnh tinh thần. Số còn lại, những kẻ không hiểu, và nhiều kẻ không bao giờ hiểu, cũng là những con bệnh nặng, chỉ là theo một kiểu khác. Không ai lành mạnh nổi nơi đây.


Thứ duy nhất đứng đối diện với con rô-bốt trong 20th Century Boys là một chàng nhạc sĩ lang thang, tóc tai bù xù râu ria lởm chởm, người chỉ có mỗi một vũ khí là cây đàn, kẻ một mình quyết tử với con quái vật khổng lồ kia bằng bài hát duy nhất của mình. Nhưng chuyện kể thì chỉ để kể chuyện vậy thôi. Sau đó, mọi thứ vẫn cứ tiếp tục, trái đất vẫn quay, khi còn có thể.

Đừng!

Đừng đút tay vào ổ cắm!
Đừng uống nước bể bơi!
Đừng liếm con mèo!

Nếu bạn còn nhớ, thì bạn cũng lớn lên cùng với những câu lệnh tương tự như thế. Và nếu trí nhớ của bạn tốt hơn nữa, bạn sẽ nhớ rằng từ thuở ban sơ, đâu đó trên Thiên Đàng, ông cố tổ của chúng ta cũng đã được dặn rằng đừng ăn trái cấm. Đừng! Thế rồi chúng ta vẫn có mặt ở đây. Bảy tỉ rưỡi đứa. Đứa nào cũng lớn lên với những câu lệnh “đừng”.

Nhưng đừng là đừng thế nào? Chơi nhau à? Bày ra trước mắt rồi bảo đừng ăn, đừng chơi, đừng làm, đừng ghét, đừng yêu, đừng xây, đừng phá, thì quá bằng bảo đừng sống nữa? Thế thì đừng đẻ tôi ra? Đẻ tôi ra, tôi sống nhăn răng ra đây rồi thì cứ nhất định bảo đừng, tóm lại các người muốn gì?

“Chúng ta muốn ngươi được là chính ngươi.” – Họ nói.

“Thì tôi đang là chính tôi đây.” – Tôi nói.

“Nhưng đừng theo cách ấy.” – Họ nói.

“Ơ cái ĐKM*%&Ư$^*Ư&Ư&Ử@#@$.” – Tôi nói.

“Và đừng chửi bậy.” – Họ nói.

Làm sao để bớt buồn vào buổi tối

Đùa đấy. Làm gì được mà làm. Làm gì thì cũng chỉ để tránh, để che đi, để không phải cảm thấy. Nhưng cơn buồn đâu có đi đâu. Nó cứ lặng lẽ ở đó, và đợi.

Đợi mình nhận biết là nó tồn tại. Đợi mình cảm thấy nó, trò chuyện với nó. Đợi mình không vội, không sợ, không trốn tránh. Đợi mình thôi không còn coi nó là hiểm hoạ hay kẻ thù.

Đợi mình kiên nhẫn ở lại, một lúc thôi, một vài phút, một vài ngày, một vài kiếp, tất cả thời gian cần thiết, trước khi nó tan đi, theo cách giọt sương tan vào trong tia nắng ban mai.

Khổ, Đau và Trung Thực

KHỔ

Chúng ta quá quy hướng vào chính ta. Ta sống trong vỏ ốc của tự ngã, ngày càng lớn theo ta, cơ hồ không lột bỏ được. Dường như ta mang nó theo suốt đời, từ tấm bé đến ngày nhắm mắt. Tuy nhiên, thiên nhiên vẫn hiến cho ta nhiều cơ hội đập vỏ bước ra, và cơ hội đầu tiên, thuận tiện nhất, là khi ta bước vào thời hoa niên. Đó là lần đầu tiên cái tôi của ta thoạt biết có “người khác”. Tôi muốn nói đến sự thức tỉnh của dục tình. Một cái tôi, tưởng là toàn nguyên, là bất khả phân, giờ đây như tự chẻ đôi ra. Tình yêu bấy lâu ngủ say trong đáy tim vươn mình lên, và gây bạo động. Vì đây là lúc vừa dấy lên, tình yêu đòi hỏi ngay, cùng một lúc, vừa xác định cái tôi, vừa trừ bỏ cái tôi. Tình yêu khiến cái tôi tự mất đi trong đối tượng nó yêu, nhưng đồng thời cũng đòi quyền chiếm hữu đối tượng ấy. Thật là mâu thuẫn, và chính mâu thuẫn ấy là một đại bi kịch của nhân sinh. Cảm giác căn bản ấy có lẽ là nguyên động lực thúc giục loài người hướng thượng. Thượng Đế ban khổ cho con người để hoàn tất con người.” – D. T. Suzuki, Thiền Luận, Trúc Thiên dịch


ĐAU

Bạn có thể thử kháng cự và bảo vệ mình khỏi sự đau. Và bạn có thể thành công ở một chừng mực nào đó. Nếu bạn nỗ lực hết mình, bạn thậm chí có thể ngăn chặn nỗi đau, không cho nó được cảm thấy. Nhưng rồi bạn sẽ không bao giờ nhận ra, bất hạnh thực sự chính là việc không cho phép nỗi đau chạm vào mình. Nỗi đau ở đó cho bạn, không phải để chống lại hay hành hạ bạn.


TRUNG THỰC

Để tôi nói với bạn tại sao bạn nên trung thực. Bởi vì bạn không thể lừa dối. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối suy nghĩ của bạn, bạn cũng không thể lừa dối cảm xúc của bạn. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối cảm xúc của bạn, bạn cũng không thể lừa dối cơ thể của bạn. Kể cả nếu bạn có thể lừa dối cơ thể của bạn, bạn cũng không thể lừa dối tinh thể (being/spirit) của bạn. Vì tinh thể của bạn luôn luôn biết cái gì là thật và cái gì là giả. Và nếu bạn cứ cố gắng tiếp tục lừa dối bản thể của mình (thường thì vì bạn quá sợ đau, sợ khổ), nó sẽ giống như là tự tử: bạn đang phá hủy chính mình. Cho nên để sống trọn vẹn, sống cho ra sống, chỉ còn một cách trung thực mà thôi.

Cái chết của loài Ong

Hôm nay anh đọc một bài báo về việc các loài côn trùng đang lặng lẽ biến mất. Anh bỗng thần người ra, nhớ về những lần bị ong đốt hồi nhỏ (thường là lúc đang phá tổ ong), những khi ngồi nhìn đàn kiến di chuyển hàng tiếng đồng hồ (thường là trước khi chọc tổ kiến), những lúc thức khuya rủ nhau đi xem ve sầu lột xác (rồi thử kéo con ve non ra khỏi vỏ để đến nỗi cánh nó bị cháy và không bay được nữa). Rồi những châu chấu cào cào bị bắt làm mồi câu cá, những dế mèn bị bắt đá nhau, những cánh cam, bọ rùa, bọ xít, bọ hung, bươm bướm, chuồn chuồn… cả một thế giới côn trùng xinh đẹp và bí ẩn, vừa là đối tượng để chiêm ngắm, vừa là nạn nhân của sự dã man vô thức của đám trẻ nít bọn anh.

Anh không biết mình đã góp bao nhiêu phần trong số 80-90% các loài côn trùng đã biến mất khỏi bề mặt trái đất trong 20 năm qua. Dù chỉ là một phần tỉ tỉ, thì anh cũng đã góp phần vào đó. Mà đó chỉ mới là những gì anh nhìn thấy, anh nhớ về, anh ý thức được. Phần lớn hệ quả từ hành động của anh hàng ngày, anh hoàn toàn không hay biết. Anh cứ sống, và những con ong cứ chết.

Điều đó sẽ chẳng can hệ gì nếu anh không nhớ và không buồn. Nhưng cảm xúc tự đến: Tự Nhiên không cho phép anh trốn chạy. Chúng thúc giục anh ngước nhìn lên tán cây từ cửa sổ một quán quen, chúng cho anh chút mừng vui khi nhìn thấy bầy ong vàng đang hăng say làm việc – loại niềm vui nghẹn ngào khó tả như gặp lại một người bạn thiết đã quá lâu không gặp – để rồi, gần như ngay lập tức, chúng nhúng anh vào một nỗi buồn sâu thẳm, rằng đây rất có thể là một trong những tổ ong cuối cùng mà anh được nhìn ngắm, rằng sau này, kể cả khi anh muốn được ong đốt (chứ không phải bị), thì cũng không còn ai ở đó để mà đốt anh.

Chúng ghim vào tim anh một cú đau nhói để cho anh nhớ, bởi vì, dù anh không còn quá ngu nhưng lại có một trí nhớ quá tồi: cái chết của ong cũng chính là cái chết của anh.

Lời nguyện cầu cho những người phản kháng

Chính phủ ban hành một vài dự luật. Nhiều người xuống đường biểu tình phản đối các dự luật đó. Nhiều người không xuống đường nhưng theo dõi sát sao việc xuống đường. Nhiều người phản đối, thậm chí mỉa mai việc xuống đường. Nhiều người phản đối những người phản đối. 

Những dòng tiếp theo đây không liên quan gì đến tất cả những nhóm người trên. Hoặc nếu có, thì liên quan ở một khoảng cách đủ xa để không dính líu gì đến lựa chọn và thái độ của họ. Đây chỉ là vài suy tưởng vụn của cá nhân tôi khi quan sát những điều đang diễn ra.

Tôi đã nghĩ nhiều về sự phản kháng từ khi còn là một cậu học sinh cấp 3 chán chường và cô độc. Và tôi bắt đầu phản kháng từ khi trở thành sinh viên đại học. Từ đó đến nay đã gần 20 năm, không một ngày nào tôi không phải là một kẻ phản kháng.

“Mỗi một hành động phản kháng đều biểu đạt một nỗi hoài niệm về sự hồn nhiên và là một lời thỉnh cầu hướng tới điều cốt lõi của đời sống. (Every act of rebellion expresses a nostalgia for innocence and an appeal to the essence of being.)

– Albert Camus

Là một kẻ phản kháng, tôi đặt câu hỏi về mọi thứ có ý định áp đặt luật lệ/khuôn khổ/định hướng lên tôi: gia đình, nhà trường, xã hội, luật pháp, chính phủ, người yêu, bạn bè, đồng nghiệp, hay một người xa lạ bất kỳ. Tôi đã bỏ ra một khối năng lượng khổng lồ để có thể ngày càng trở nên độc lập hơn với tất cả những điều đó. Mục tiêu tối thượng của tôi, và cũng là điều tôi thực hành mỗi ngày, là không một ai, hay bất kỳ thể chế nào, trong bất kỳ tình huống nào, có thể chi phối hay điều khiển mình. 

Lúc đầu tôi không biết mình phản kháng để làm gì. Tôi chỉ khó chịu, cáu bẳn và tức giận, với mọi thứ và hầu hết mọi người. Nhưng dần dần thái độ đó làm tôi trở nên kiệt sức và chai lì cảm xúc. Quan trọng hơn, tôi không muốn mình rơi vào trạng thái phản xạ tự động: phản kháng bất kỳ điều gì mà mình cho là không đúng. Tôi ngày càng ý thức hơn về hiểu biết hạn hẹp của mình: những điều tôi cho là không đúng cũng có thể đúng lắm chứ. 

Qua thời gian, mong muốn được đúng của tôi vẫn còn y nguyên, và là nguyên động lực giúp tôi ngày càng đến gần sự thật. Nhưng mong muốn chứng minh/khẳng định người khác sai trong tôi đã giảm đi theo năm tháng. Cho đến bây giờ, tôi đã đi đến chỗ hiểu rằng mỗi người, ở một thời điểm nhất định, trước một sự việc nhất định, đều đúng theo góc nhìn của mình, và lựa chọn hành động trong giới hạn nhận thức của mình.

Một người phản kháng là kẻ yêu cuộc đời này sâu sắc và thực sự quan tâm đến những gì đang vận hành ở tận trung tâm của đời sống này. Kẻ đó, bằng sự kiên nhẫn và dũng cảm thực hành phản kháng, sớm muộn sẽ biết cách lùi xa khỏi những cơn sóng không ngơi nghỉ trên mặt nước, để tập trung hơn vào những gì nằm ở cốt lõi ở những tầng sâu hơn. Vẫn là Camus:

“Sự phản kháng không thể tồn tại mà không có một kiểu tình yêu kỳ lạ” (Rebellion cannot exist without a strange form of love.)

Và ở một trong những tầng sâu đó, tôi khám phá ra Niềm vui và Cái đẹp. Tôi nhận ra rằng, ngày nào mà tôi sống vui và sống đẹp, ngày đó tôi đang thực hành phản kháng triệt để. 2500 năm trước, sống giữa thời loạn Xuân Thu và Chiến Quốc, Trang Tử đã chọn cách sống đó. 2500 năm sau, trong một thế giới “hiện đại” với hệ thống kinh tế-xã hội toàn cầu được thiết kế tinh vi bởi các nhóm lợi ích chóp bu (Các Tập đoàn Lớn, Chính phủ Lớn) để con người ngày càng đau khổ hơn, tức giận hơn, bất lực hơn và xấu xí hơn (trong khi vẫn liên tục được rao giảng và hứa hẹn về niềm vui và cái đẹp), câu trả lời vẫn không thay đổi: Người sống hạnh phúc là kẻ phản kháng trọn vẹn nhất. Và việc sống hạnh phúc của người đó, dù vô ngôn, trở thành một lời nguyện cầu chân thực nhất, mạnh mẽ nhất, hiến dâng cho đời sống diệu kỳ này. 

Đến đây, một lần nữa, tôi lại nhớ Camus – ông đã viết quá hay điều tôi định giãi bày:

“Cái Đẹp, hẳn rồi, chẳng làm nên được cuộc cách mạng nào. Nhưng sẽ đến một ngày mà những cuộc cách mạng sẽ phải cần đến cái đẹp.” (Beauty, no doubt, does not make revolutions. But a day will come when revolutions will have need of beauty.)

dòng tôi đang chảy

Lâu rồi tôi không ngừng lại để quan sát chính mình. Hay nói đúng hơn, việc quan sát chính mình của tôi đã trở thành thói quen ăn sâu đến mức, giống như việc thở, tự động diễn ra bất kể tôi có ngừng lại hay không. Lâu rồi tôi không ngừng lại xem tôi đang thở thế nào.

Tôi biết mình đang dịch chuyển. “Dịch” là một từ có nội hàm sâu xa và rộng lớn, đến mức từ cổ xưa đã có hẳn một pho Kinh Dịch ẩn tàng nhiều lớp quặng tri trức mà con người ngày nay vẫn còn đang miệt mài khai quật. Minh triết cổ và vật lý hiện đại đã đi đến chỗ đồng quy: vũ trụ vốn rỗng không, cái Không dịch chuyển mà thành ra các hạt, các hạt dịch chuyển mà thành ra vật chất. Suy nghĩ là dịch chuyển thông tin. Cảm nhận là dịch chuyển năng lượng. Sinh sản là dịch chuyển nguồn gen. Một nốt nhạc vang lên. Rồi vang lên lần nữa. Nhưng mọi chuyện đã đổi thay.

Tôi cũng đổi thay. Ngày càng nhanh và nhiều đến mức khó mà nắm bắt và liệt kê hết được. Bất cứ lúc nào tôi muốn định nghĩa chính mình, tôi buộc phải làm đông cứng dòng chảy, cắt ra một lát nhỏ, quan sát và miêu tả lát cắt đó, hòng làm rõ một vài thuộc tính, một số đặc điểm. Nhưng chừng nào tôi còn sống, chừng nào dòng chảy tiếp tục chảy trôi, thì chẳng mấy chốc mà các đặc điểm hay thuộc tính đó sẽ không còn ở đó nữa.

Borges viết: “Thực ra tôi không chắc là tôi tồn tại. Tôi là mọi nhà văn tôi đã đọc, mọi con người tôi đã gặp, mọi phụ nữ mà tôi đã yêu, mọi thành phố tôi đã đến.” Tôi là mọi thứ, đồng thời cũng không là gì. Tôi là sự dịch chuyển, là sự tổng hòa, là sự tương hợp của triệu triệu cơ duyên. Việc định nghĩa tôi là ai liệu có chút nào quan trọng trong dòng chảy miên viễn ấy?

“Tôi không có quy lệ thường ngày và lịch sử cá nhân. Đến một ngày tôi nhận ra chúng chẳng còn cần cho tôi nữa và, cũng giống như rượu, tôi bỏ chúng. Người ta nên có mong muốn bỏ chúng đi và nên bắt đầu bỏ chúng từng chút một, một cách nhẹ nhàng. Nếu bạn không có lịch sử cá nhân, sẽ chẳng có gì phải giải thích; không ai tức giận hay vỡ mộng về hành vi của bạn. Và hơn hết thảy không ai đóng khung bạn bằng suy nghĩ của họ. Tốt nhất là nên xóa hết lịch sử cá nhân, vì điều đó giúp chúng ta được tự do khỏi bao nhiêu suy tưởng ngổn ngang của người khác. Một cách từ từ, tôi đã tạo ra một lớp sương mờ xung quanh mình và cuộc đời của mình. Và không ai thực sự biết tôi là ai hay tôi làm gì. Kể cả tôi. Làm sao tôi biết được tôi là ai, nếu tôi là tất cả những điều này?”

Tôi thực sự đồng cảm với đoạn viết trên của Carlos Castaneda. Hôm nay tôi ngồi đọc hàng trăm câu trả lời từ một form câu hỏi mà tôi đã ngẫu hứng tạo ra. Tôi nhận ra mình hồi đó. Tôi thấy mình bây giờ. Tôi gặp mình trong suy nghĩ, trong sợ hãi, trong niềm tin của người khác. Dù họ kể về họ hay về tôi, dù là một ý nghĩ thoáng qua hay là cả một bầu tâm sự tràn trề, dù là những mảng màu sáng trong hay u tối, tôi đều nhận ra các mảnh ghép của mình. Chúng ta đều là các mảnh ghép của nhau. Chúng ta là từng sợi tơ đan vào nhau dệt nên tấm lụa đời sống. Chúng ta là muôn vạn hình thái của nước: sương sớm, mưa rào, băng tuyết, suối, sông, mạch ngầm, thác đổ… để rồi tất cả đều chảy về đại dương.

“Tôi nghĩ về tôi như là một kẻ mãi mãi kỳ quặc, một linh hồn cô đơn, một gã lang thang, một nghệ sĩ quay quắt không ngơi nghỉ, một người đang trong tình yêu với tình yêu, luôn luôn trên đường tìm kiếm cái tuyệt đối, luôn luôn theo đuổi những điều không thể đạt được.” – Chẳng phải vì chúng ta tương thông nối kết, mà Henry Miller đã có thể viết đoạn trên về ông chân thành và chuẩn xác y như viết về tôi, hay về bất kỳ ai đang đọc những dòng này, đó sao?