Sách và Người

Một bìa sách Mưa vẽ, 2010.

Sách có nhiều điểm giống người. Tiếng nói của sách là âm thanh vang vọng của cuộc đời một con người. Duyên gặp một cuốn sách hay cũng giống như duyên gặp một người bạn quý. Không phải cứ mua là được, đọc là được. Mà phải đầy đủ điều kiện tinh thần, khi dòng chảy cuộc sống đặt mình vào đúng vị trí đó, cầm đúng cuốn sách đó, để đúng những dòng chữ đó cộng hưởng với lòng mình ở đúng thời điểm đó trong một mối giao cảm thân thương không gì khác làm được. Đó mới là “gặp” một cuốn sách.

Sách cũng có nhiều điểm khác người. Mình có thể yêu quý nâng niu sách, rồi bỏ đi một mạch vài năm sau trở lại, sách vẫn không nề hà. Nhưng sách cũng chẳng lớn lên. Nếu vài năm sau mình đã trưởng thành hơn so với lúc mình yêu sách, thì sách trở nên nhạt nhẽo, tầm thường, vô vị. Tất nhiên, sách cũng không lấy đó làm điều. Sách lại lặng lẽ đi tìm những người đang lớn khác. Lại có những sách đợi mình lớn lên, đợi mình thấy cái hay mà lúc vội vàng mình chưa thấy. Dù sao mặc lòng, lúc nào sách cũng tĩnh lặng hơn, và kiên nhẫn hơn.

Sách rất trung thực, như một tấm gương trong vắt. Sách cho thấy ai là người kỹ lưỡng, chỉn chu. Ai khác hời hợt, nhạt nhẽo. Ai khác giả dối, xu nịnh. Ai chắt từng giọt máu của mình lên trang giấy, ai copy-paste chỉ để làm tác giả. Ai tự do, ai sợ hãi, ai tức giận, ai an nhiên. Vàng thau lẫn lộn, như người. Nhưng cũng như người, quan sát đủ, thì thấy rõ.

Như một con người đã hoàn toàn là bản thân mình, một cuốn sách độc đáo trọn vẹn rất khó để phân loại. Đặt “Hoàng Tử Bé” vào đâu đây, sách thiếu nhi hay người lớn, sách triết hay sách văn? Đặt sách Bùi Giáng vào đâu đây, thơ hay văn, tôn giáo hay triết học, cổ điển hay hiện đại, Đông Phương hay Tây Phương? Ngược lại, những cuốn sách dễ dàng để lọt vào trong một thể loại, thường chỉ là một mảnh vụn, một sự quy thuận và chia tách, không chỉ cho dễ đọc, mà còn trong chính cách sống của người viết nữa.

Phân loại sách có lẽ cũng như phân loại người, không nên theo trình độ, theo đề tài, theo độ hiểu biết, theo độ nổi tiếng, mà chỉ nên theo đúng một tiêu chí thôi: sức sống. Có những trang sách nơi dòng chữ chảy trôi phập phồng những nhịp đập nóng hổi, và những trang sách nơi chữ nằm chết đứ đừ, bốc lên một thứ mùi mốc meo lưu cữu, hoặc uốn éo màu mè những tấm mặt nạ rẻ tiền, cố gắng che đậy sự trống rỗng chết chóc.

Nhân nói chuyện thể loại, thì không hề có “fiction” với “non-fiction”. Hầu hết sách đều là hư cấu cả. Lịch sử: hư cấu. Khoa học: hư cấu. Tôn giáo: hư cấu. Rất hiếm những cuốn sách chân thực nhất và minh triết, những cuốn sách nói về SỰ THẬT. Làm sao để tìm những cuốn sách đó, lại phải tùy duyên.

Thực tình tính mệnh Việt Nam

Thiếu nữ Huế, 1963

Hai ngàn ba trăm năm trước, Trang Tử viết Nam Hoa Kinh dài hàng vạn chữ, rốt cuộc chỉ để nói rằng thiên hạ đại loạn vì mất đạo, mất đạo nên “không loài nào được yên với thực tình của tính mệnh” (bản dịch của Nhượng Tống). Nếu đọc kỹ kinh Phật, nghe sâu lời của Jesus, hay soi trong cốt tủy của mọi nhà hiền triết cổ kim, cũng sẽ quy về một mối ấy: Con người vì chấp mê vào lý trí và giác quan của mình mà không nghe được nhạc trời, không hiểu được chân tính bản thể, nên thay vì sống trọn vẹn với thể tính của mình (thiên đường) thì tồn tại quay cuồng trong đau khổ (địa ngục).

Như mọi dân tộc khác, Việt Nam cũng từng có những người con xuất chúng dấn thân đi tìm thể tính của dân tộc mình. Chỗ này cần nói rõ: thể tính khác với danh tính (identity) của dân tộc, lại càng khác với vấn đề độc lập, tự do của đất nước. Cho nên những cá nhân được nhắc đến trong sử sách thường chỉ là vua chúa quan tướng, những ngọn sóng ba đào của dòng chảy lịch sử, chứ ít ai chạm đến được những tầng sâu hơn của đại dương tính mệnh. Mà thể tính lại nằm ở tầng sâu xa nhất, là chỗ “không thể nghĩ bàn” mà triết gia cổ kim đều bất lực khi muốn nói về.

Không thể nghĩ bàn, nhưng lại rất hiển nhiên. Hamvas Béla cũng khẳng định việc này trong Minh Triết Thiêng Liêng: đạo lớn vốn rất dễ hiểu. Hãy thử đọc lại đoạn này của Nam Hoa Kinh:

“Con ngựa: móng có thể dày sương, tuyết; lông có thể chống gió, rét; gặm cỏ, uống nước, ghếch cẳng mà ở cạn; đó là chân tính của ngựa. Dù có đền cao, cung đẹp, nó có cần dùng chi! Kịp khi Bá Nhạc nói: “Tôi trị ngựa giỏi lắm!” Rồi đốt lông nó, cắt bờm nó, gạt móng nó, ràng đầu nó, buộc nó vào yên, cương; giam nó vào tàu, chuồng; thế là ngựa chết mười phần đến hai, ba rồi! Bắt nó đói; bắt nó khát; bắt nó quần; bắt nó chạy; bắt nó phải chỉnh tề. Đàng trước có cái nạn dàm, thiếc; mà đàng sau có cái oai roi, vọt. Thế là ngựa chết đã quá nửa rồi!”

“Chết quá nửa” tức là sống ngược lại với thể tính, đi xa khỏi đạo trời. Charles Eisentein, tác gia đương đại người Mỹ, nói rằng điều mà nhân loại đang chứng kiến hiện nay không phải là thể tính của nhân loại (nature of humanity), mà là sự chối bỏ thể tính của nhân loại (nature of humanity denied). Điều này nếu đọc lại Kẻ Phản Ki-tô của Nietzsche, “Chống Ki-tô” của Hamvas Béla, hay thông điệp nghìn năm trước của Trang Tử, sẽ thấy rõ đều là một vậy.

Quay lại Việt Nam: vậy ai là những người đã gọi tên thể tính Việt Nam từ những cội nguồn nguyên thủy của nó? Trước hết là những bậc tổ tiên đã dựng nên truyền thuyết, đã tạo nên tục ngữ, ca dao, đã sống trọn vẹn như hoa mọc lên từ đất và gọi tên chỗ họ mọc lên là “đất nước”. Rồi đến Nguyễn Du thăng hoa Việt ngữ trong Truyện Kiều. Rồi đến Phạm Duy thăng hoa Việt tính trong âm nhạc. Rồi đến Bùi Giáng làm thơ, như mưa nguồn chảy ra từ uyên nguyên sơ thủy:

“Hỏi rằng: người ở quê đâu
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng: từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân”

Chào Nguyên Xuân, Mưa Nguồn, Bùi Giáng, 1962

Phạm Công Thiện đã từng cố đi tìm thể tính của Việt Nam. Nhưng vì cố quá, cố theo lối Heidegger nghiêm túc lòng vòng mà quên đi cái rong chơi phiêu bồng, cái an nhiên nhẹ nhõm. Mà “phiêu bồng rớt hột” (chữ của Bùi Giáng) lại nằm ở cốt tuỷ của thể tính Việt Nam.

Nói thật dài, dẫn thật xa, đi một vòng cổ kim như vậy, rốt cuộc để kết lại điều gì? Rằng những ai còn chưa biết, hãy biết. Những ai biết rồi, hãy buông. Phàm đã sống trên mảnh đất phía Nam này, hoặc là hoàn toàn hồn nhiên thuần phác (mà hiện nay chắc chẳng còn ai như vậy, ngay chính trẻ con cũng bị phá hỏng từ đầu); hoặc là cần phải vượt (Việt) lên trên chính những hồn nhiên đã đánh mất của mình, để hồn nhiên trở lại (hồi thuần), để thể nhập vào đất-nước quê-hương.

We never know

“Khi hàng ngàn chiếc ô tô chen chúc nhau ngang qua London, chúng ta gọi đó là tắc nghẽn giao thông, nhưng điều đó không tạo ra một bầu nhận thức London khổng lồ nào đó (some great Londonian consciousness) bay là đà trên đại lộ Piccadilly và tự nhủ: “Khỉ thật, ta cảm thấy thật bế tắc!”. Khi hàng triệu người cùng bán ra hàng tỉ cổ phiếu, chúng ta gọi đó là một cuộc khủng hoảng kinh tế, nhưng không có một đại linh hồn Wall Street nào càu nhàu: “Cứt thật, ta cảm thấy thật khủng hoảng.” Khi hàng tỉ tỉ phân tử nước tụ lại với nhau trên bầu trời, chúng ta gọi đó là một đám mây, nhưng không có một ý thức tự thân nào của đám mây xuất hiện để tuyên bố: “Ta cảm thấy muốn mưa lắm rồi.” Thế thì làm sao mà, khi hàng tỉ tín hiệu điện tử di chuyển trong não tôi, một tâm trí lại xuất hiện và cảm thấy “Tao đang điên đây!”? Cho đến năm 2016, chúng ta hoàn toàn chưa biết gì về việc đó cả.”

Đoạn trích phía trên, dịch từ Homo Deus của Yuval Noah Harari, đặc biệt thú vị. Vì mặc dù đồng ý với hầu hết các dẫn chứng và rất mê cách dẫn dắt hấp dẫn của ông, ở ngay đoạn này mình lại đặt câu hỏi: ủa, tại sao không? Kết luận luôn là không có các linh hồn lớn bay vòng vòng trên đầu các thành phố, có cảm xúc vốn được tích tụ từ cảm xúc của toàn bộ sự sống bên dưới, và từ cảm xúc đó dẫn đến các sự kiện lớn tiếp theo, liệu có vội quá và chủ quan quá không?

Biết đâu, ngay tại thời điểm hiện tại, các linh hồn lớn vẫn đang bay vòng vòng phía trên đầu chúng ta. Biết đâu đa số họ đang mất dần kiên nhẫn.

“Khó thở quá!”

“Đau quá!”

“ĐCM tất cả những sự giả dối tạm bợ này thật đáng kinh tởm!”

“Tao muốn giết người lắm rồi!”

“Phải có chiến tranh thôi!”

Biết đâu từng linh hồn nhỏ của mỗi sinh linh trên mặt đất, không chỉ của con người mà của hàng tỉ loài sinh vật là nạn nhân của con người, đang gửi tín hiệu dồn dập 24/7 lên trời, khẩn cầu các linh hồn lớn, làm ơn phát lệnh kết thúc giùm chúng con?

Biết đâu là như thế?

Who makes History

The creation of Adam, Michelangelo, Sistine Chapel’s ceiling, painted c. 1508–1552

Để một cây táo nở hoa cần hàng ngàn điều kiện phù hợp: hạt giống, nhiệt độ, độ ẩm, ánh nắng, đất, độ tơi xốp của đất, sinh vật, cây bụi, cỏ, vi sinh vật, côn trùng, thiên địch của côn trùng…vv… Nếu coi hoa táo nở là một sự kiện lịch sử, thì ai là người tạo ra sự kiện đó? Không một ai, mà tất cả. Toàn bộ vũ trụ đã vận động để tạo ra bông hoa đó, mỗi một yếu tố đều góp phần của mình vào quá trình sáng tạo.

Bây giờ quay lại cái gọi là lịch sử của loài người, và những cá nhân được coi là “làm nên lịch sử”, những kẻ được vinh danh, được ghi chép, được tôn trọng hay phỉ nhổ. Tất cả họ đều chỉ là một yếu tố trong hàng triệu triệu yếu tố của sự chuyển động được ghi nhận thành các sự kiện đó. Ở đúng thời điểm, với đầy đủ điều kiện, làm đúng việc cần làm và có thể làm, đó là tất cả những gì xảy ra. Không có gì vĩ đại trong từng cá nhân đó hết. Sự vĩ đại nằm ở cái toàn thể, là sự dịch chuyển sâu bên dưới và cao bên trên, trong vô lượng những điều không nhìn thấy được.

Con người thích nghĩ là mình vĩ đại (hay gia tộc mình, quốc gia mình, đế chế mình, cũng thế). Cùng lúc đó, nó biết là nó chẳng vĩ đại chút nào. Vì thế bằng mọi cách nó tạo ra hàng tỉ thứ màu mè, những câu chuyện hấp dẫn, những mưu kế thâm sâu qua nhiều nghìn năm chỉ để tự lừa dối bản thân về sự vĩ đại dối trá của chính nó. Một cuộc chơi hết sức u mê, luẩn quẩn và đầy đau khổ, nhưng nó chẳng thà chọn chơi, còn hơn đối diện với sự thật.

Vậy, nếu không phải lũ sinh vật nhỏ bé dối trá đáng thương ấy đã làm nên lịch sử, thì ai? So who makes His-story?

It’s Him, obviously.

Thư gửi J. Krishnamurti

Ông thương mến,

Nhờ một mối duyên lành, tôi được một người bạn quý tặng cho cuốn “Nhật ký cuối cùng” của ông trong những ngày lưu lại Đà Nẵng. Đây thật là một cuốn sách dịu dàng, hết sức dịu dàng. Đọc nó tôi cảm thấy như thể được chuyện trò với ông ở một nơi thanh tịnh, yên ả, trong không khí dịu mát và làn gió đưa hương ngọt của mùa xuân. Tôi xiết bao yêu mến cuộc trò chuyện nhẹ nhàng, chậm rãi, sâu lắng, về những vấn đề cốt tuỷ của đời sống này.

Trong những ngày tuổi trẻ quày quả đi tìm một con đường trưởng thành, tôi đã gặp ông và Osho cùng một lúc. Nóng rực như một bầu lửa, Osho, và sau này là Zorba, Henry Miller, Phạm Công Thiện… đã thu hút và kích hoạt năng lượng của tôi. Còn ông? Ông quá chậm rãi và đôi khi nhạt nhẽo. Tôi chỉ ấn tượng duy nhất với việc giải tán giáo phái Ngôi Sao của ông, ngay sau khi nhậm chức lãnh đạo. Còn lại thì quả thực là chẳng đọng lại gì mấy. Ấy thế mà bây giờ, ở đây, tôi lại đang nhấm nháp sự chậm rãi của cuộc trò chuyện này với một niềm vui thích dịu dàng. Tôi già mẹ nó rồi, ông ạ.

Trước tiên, xin được nói ngay, tôi rất mê cách ông tả cảnh thiên nhiên trong cuốn này. Tôi cảm nhận rõ ràng tình yêu dịu dàng và sâu sắc của ông đối với thiên nhiên, với vẻ đẹp thuần tịnh thiêng liêng của vũ trụ. Mở đầu mỗi chương, ông đều quan sát và miêu tả kỹ càng từng nhánh cây, ngọn lá, từng giọt sương, cành hoa, những ngọn đồi và thung lũng, những con sóc, chim cú, chim sâu, rắn, nai, linh miêu, gấu… Tất cả hiện lên thật đẹp đẽ, yên bình, hoà hợp và thân thiết.Thế nhưng, tiếp theo, đối lập lại, nổi bật lên, bao giờ cũng là một cái gì đó xấu xí của con người. Và đó cũng là chỗ tôi lấn cấn, và muốn trò chuyện nhiều hơn với ông. Trước tiên, ta hãy cùng đọc lại vài đoạn:

“Đầu bên kia của thung lũng rất thanh tịnh, nhất là vào buổi sáng êm ả như hôm nay, người ta không hề nghe một tiếng động nào trên đường phố. Các ngọn đồi đều ở sau lưng ta: ngọn núi cao nhất vùng đo được hơn hai ngàn mét. Ngôi nhà được bao bọc bởi vườn cây ăn trái là những cây cam với màu vàng rực rỡ, và hôm nay bầu trời xanh không gợn chút mây. Trong không khí thanh tịnh này, ta nghe tiếng vo ve của đàn ong đang vờn hoa. Sau nhà có cây cổ thụ đặc biệt của xứ Californie, đã bị gió thổi gãy rất nhiều cành khô. Cây đã tồn tại qua bao nhiêu trận bão, bao nhiêu mùa hè oi bức và mùa đông giá buốt. Cây có thể kể cho ta nghe vô số chuyện cổ tích thật hay, ấy thế mà sáng nay trời lặng gió cây lại mặc nhiên. Xung quanh chỉ toàn là một màu xanh, lá cây điểm thêm màu vàng sống động của những trái cam, và hư không nhuốm mùi hoa lài thơm ngát. Thung lũng vắng hẳn tiếng ồn lẫn sự hiếu động của con người, xa cả cái thô kệch của xã hội. Những nụ hoa cam vừa nở tung. Một hay hai tuần nữa, hương thơm của chúng và tiếng thì thầm của hàng ngàn con ong sẽ xâm chiếm thung lũng. Buổi sáng hôm nay thật thanh tịnh, nhưng ở đằng xa kia có một thế giới bệnh hoạn luôn sống trong hiểm nguy và trong sự đổ vỡ lớn lao.”

“Trên đầu mỗi ngọn lá to hay nhỏ vừa được mưa gội sạch đều có một giọt nước lung linh dưới nắng mai, một viên ngọc tuyệt vời mà làn gió thoảng không sao thổi đi được. Sáng hôm ấy trời thật êm, thật vui, thật an lành với bầu không khí đầy ân sủng. Hãy ngắm nhìn cái long lanh lơ lửng trên đầu ngọn lá tươi mươi, trái đất mới đẹp làm sao mặc dù những sợi dây điện treo trên những cây cột trông thật gớm ghiếc.”

“Ta hãy ngồi xuống đây, im lặng, xa cách hẳn mọi sự, để ngắm nhìn bầu trời, để cảm nhận mùi đất trọn vẹn và cái thuần tịnh mỹ miều của tất cả những gì đang sống và đang máy động mà không có con người xen vào. Con người cứ như thế mãi từ bao nhiêu thế kỷ nay, và vẫn cứ thế ngày nay, ngày mai, ngày mốt. Tương lai của họ cũng vẫn là như thế, trừ phi có một cuộc cách mạng tâm linh thật sâu sắc và vững chãi.”

Ồ hoá ra con người minh triết và tràn đầy tình yêu thương bên trong ông vẫn còn muốn làm cách mạng. Có một điều gì đó hơi hụt hẫng trong lòng tôi. Có gì đó thiếu thiếu, sai sai. Và lời của ông dù đẹp đến đâu cũng trở thành nhạt nhẽo.

Ông nói nhiều đến sự giới hạn của tư tưởng con người, nhưng nỗi khó chịu của ông chẳng phải là một sự giới hạn sao? Ông nói tư tưởng tạo ra ảo ảnh, nhưng cuộc cách mạng tâm linh của ông, thế giới nơi chiến tranh hoàn toàn chấm dứt mà ông đang mơ tưởng đến, chẳng phải là một ảo ảnh sao? Với trí tuệ của mình, sao ông chưa chạm đến việc đơn giản chấp nhận rằng con người là một phần của tự nhiên, và mọi điều nó tạo ra, dù đẹp/xấu thế nào, đều là sắp đặt của tự nhiên? Làm sao ông có thể cảm nhận trái đất này toàn vẹn khi không có con người xen vào? Ông nói nhiều về tâm phân biệt, nhưng chẳng phải ông đang phân biệt rất mạnh mẽ hay sao?

Nghĩ đến đây, tôi lại nhớ một bậc thầy minh triết khác, người được coi là một trong những ngọn hải đăng tâm linh của nhân loại, Kahlil Gibran. Cũng như ông, Gibran bày tỏ nỗi chán ghét văn minh của loài người. Ông ấy đặc biệt căm thù máy bay, coi chúng như là sự xâm lăng bầu trời và là sự xúc phạm đối với những điều thiêng liêng cao cả.

Tôi có thể thông cảm rằng, vì các ông quá yêu cái đẹp nên căm thù cái xấu. Nhưng chẳng phải như vậy là rất tầm thường sao? Chẳng phải vì ai cũng đang vì bảo vệ cái đẹp của riêng mình và căm thù cái xấu của người khác mà xông vào giết nhau sau? Hay là các ông cho rằng cái đẹp/xấu của các ông đã là chuẩn mực của vũ trụ, và mọi người đều phải nghe theo? Trong thế giới hiện đại bây giờ, nếu tôi cũng có tư tưởng như các ông, thì tôi chỉ có thể hoặc là trốn chạy, hoặc là chết. Thế giới ngày nay đã ô nhiễm, đã thoái hoá và đồi truỵ hơn thời của các ông rất nhiều. Máy bay đã bay rợp trời, mặt đất đã bị phá tanh bành, biển cả đã tràn ngập rác rưởi và băng ở các cực đang tan. Nói như Hamvas Bela, nhân loại đang dần chìm sâu vào trong vô thức. Vô thức phá huỷ, chà đạp, nghiền nát. Vô thức lây lan bệnh tật, và được đẩy nhanh tốc độ lan truyền bởi công nghệ. Tất cả những đẹp đẽ mà ông ca ngợi và trân quý đều đang chết. Nếu sống dậy, các ông sẽ làm gì? Trốn lên một ngọn đồi yên tĩnh và nói về việc làm cách mạng? Viết tiếp những tập thơ thương xót tự nhiên và mạt sát con người? Làm ơn đi.

Tôi đồng ý với ông con người thật xấu xí, ngu xuẩn, thô lậu. Nhưng đồng thời với việc kinh tởm con người, chúng ta buộc phải chấp nhận rằng nó có ở đây là có lý do. Loài người là một phần của tự nhiên, nó vốn được lập trình để có trí tuệ và ham muốn, có sức mạnh tột bực và tiềm năng vô song, để hiển lộ tối đa sáng tạo của Điều-Không-Biết-Gọi-Là-Gì-Đành-Gọi-Là-Thượng-Đế. Có sáng tạo nào không có sai lỗi không, ông thân mến? Trong dòng chảy sáng tạo vĩ đại này, nếu có xảy ra sự phá huỷ, thì sự phá huỷ đó cũng đã được tính trước. Trong điệu nhảy vĩnh hằng của thần Shiva, toàn thể vũ trụ đều sinh diệt cùng một lúc. Chúng ta là ai mà chỉ muốn sinh, không muốn diệt, hả ông?

Tôi đồng cảm với ông về mong muốn làm cách mạng. Có lẽ ông căm ghét con người vì quá yêu thương con người. Nhưng nếu nhận thức của ông chỉ dừng ở đó thôi, thì nỗ lực của ông cũng đổ sông đổ biển như mọi tư tưởng hay tôn giáo mà ông vẫn thường chỉ trích là vô nghĩa. Chính ông cũng viết trong chương kế cuối như thế mà: “Cái toàn thể ấy ở ngoài ngọn triều lên xuống của cuộc đời, của tác động và phản ứng. Cái đẹp không có đối lập. Hận thù không phải là cái đối nghịch với tình yêu”.

Ngay chính chỗ này, tôi nhớ Henry Miller tha thiết:

Mọi thứ mà ta ngoảnh mặt đi, mọi điều mà ta chạy trốn, mọi sự mà ta chối từ, phỉ báng, hay khinh miệt, cuối cùng sẽ quay lại đánh bại ta.

Những điều thoạt trông có vẻ gớm ghiếc, đau đớn, hay ác độc, đều có thể trở thành khởi nguồn cho cái Đẹp, của niềm Vui và Sức Mạnh, nếu ta ôm ấp chúng với một tâm trí rộng mở.

Mọi khoảnh khắc đều có thể trở thành Hoàng Kim đối với người có đủ khả năng nhận ra nó là như thế.

Mong rằng ông cũng nhận ra khoảnh khắc Hoàng Kim này, ngay tại đây, bây giờ, nếu ông vẫn còn ở đâu đó quanh đây.

Mến thương ông,

2 giờ sáng

2 giờ sáng, dậy và không ngủ lại được. Nằm nghĩ miên man, nhớ đến câu này của Dr. Seuss: “Em biết mình đang yêu khi không ngủ được vì thực tại rốt cuộc còn tuyệt hơn cả những giấc mơ của em.” (You know you’re in love when you can’t fall asleep because reality is finally better than your dreams.)

Mình yêu thực tại này nhiều hơn mình có thể tưởng tượng/ghi chép/diễn tả. Mình yêu những người đang cùng mình tạo ra nó. Tất cả mọi người, tất cả mọi sự. Bao gồm tất cả quá khứ/ký ức/kinh nghiệm đã dẫn đến nó; tất cả tương lai/vô hạn khả năng mà nó đang ôm ấp. Thực tại phóng túng, sống động, đa chiều, hàm chứa tất cả, ngay tại một nơi. Không cần phải đi đâu, làm gì, mơ tưởng đến gì khác ngoài việc nhúng mình toàn bộ vào trong thực tại kỳ diệu này, để từng khoảnh khắc dẫn lối theo dòng chảy. Nhập lưu. Cháy và chảy, cháy và chảy không ngừng.

TẠI SAO là câu hỏi kiêu ngạo nhất của Con Người. Vì nó nghĩ rằng nó có thể hiểu được động cơ của Tạo Hoá. Ngày nào nó biết chấp nhận giới hạn của mình, hoàn toàn khiêm cung, di chuyển khiêm nhường và kiên nhẫn giữa lòng thực tại vô cùng biến ảo mà nó chấp nhận rằng mình không hiểu một chút gì, là lúc những tia lửa nhỏ của minh triết bắt đầu đánh lên. Như Bụi Tiên được rắc lên Peter Pan, nó sẽ bay. Không tại sao cả.

Tự nhiên nhớ đến câu chuyện cười này từ một bài Tedtalk của Sir Ken Robinson: Một đứa trẻ đang cặm cụi vẽ ở cuối lớp, không nghe giảng bài. Cô giáo xuống và hỏi: “Con đang vẽ gì đấy?” Đứa bé đáp, tay vẫn không ngừng vẽ: “Con đang vẽ Chúa.” Cô giáo nói: “Nhưng đâu có ai biết Chúa trông như thế nào?” Bé con vừa vẽ tiếp vừa trả lời, không thèm ngước lên: “Rồi họ sẽ biết ngay thôi.”

Và nhớ hộp-cừu của Hoàng Tử Bé. Và nói chung là nhớ mọi thứ.

Thôi đi ngủ.

Dù sao vẫn còn nghệ thuật

Four Trees, by Egon Schiele, 1917

Tôi nhớ những ngày mùa thu năm ngoái, lang thang qua những bảo tàng viện kỳ vỹ ở Vienna, tôi đã dừng lại rất lâu ở một triển lãm nhỏ, trong một bảo tàng nhỏ. Nhỏ thôi, nhưng cái tên còn ở lại mãi: “Dù sao vẫn còn nghệ thuật!”. (And yet there was art!).

Dấu chấm than ở cuối dòng chữ đó mới mạnh mẽ làm sao. Mạnh mẽ lắm, bởi nó khẳng định sự quả cảm của con người, và sức mạnh cứu rỗi của nghệ thuật, trong chiến tranh. Triển lãm trưng bày các tác phẩm của các tác giả Áo được sáng tác trong thời kỳ 1914 – 1918, những năm diễn ra Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Trong đó, nổi bật nhất là hoạ sĩ mà tôi yêu kính, Egon Schiele. Cùng nhiều hoạ sĩ trẻ khác cùng thời kỳ, Schiele bị buộc phải dấn thân vào chiến tranh mà không biết điều gì đang chờ đợi mình. Ngày 10/7/15, trải qua một năm chiến tranh, ông viết thư cho mẹ: “Bao giờ thì cuộc chiến tranh khủng khiếp này sẽ kết thúc – đây phải chăng là thời kỳ khốn khổ nhất mà loài người từng trải qua – rốt cuộc chúng ta đến Trái Đất này làm gì?”

Cùng nhiều hoạ sĩ khác, những lúc không cầm súng, Schiele cầm cọ vẽ. Ông vẽ lại những đớn đau dằn vặt, những bạo lực kinh hoàng, không chỉ bên ngoài, mà còn bên trong nữa. Ông vẽ, để vượt lên trên chiến tranh. Súng đạn không giết được ông, nhưng thiếu nghệ thuật, hẳn là ông sẽ chết, chết sớm hơn cả lúc căn bệnh Cúm Tây Ban Nha quật ngã ông, đúng vào năm cuối của cuộc chiến. Schiele chưa kịp thấy hoà bình, cũng chưa kịp chứng kiến chỉ hai chục năm sau, nhân loại lại kéo nhau vào một cuộc chiến còn lớn hơn, lâu hơn, khủng khiếp hơn nữa.  

Chiến tranh… đa số chúng ta đều không hiểu nó là gì. Cuộc chiến lớn nhất đã lùi vào quá khứ hơn nửa thế kỷ trước. Cuộc chiến gần nhất của đất nước này cũng đã kết thúc cách đây 40 năm. Đã qua rồi những tang thương mất mát, những thảm khốc kinh hoàng. Nhưng, có thật như thế không?

Chuck Palahniuk trong Fight Club từng nói: “Chúng ta là những đứa con hoang của lịch sử, bạn thân mến. Không nơi chốn hay mục đích. Không Đại Chiến. Không Đại Khủng Hoảng. Cuộc Đại Chiến của chúng ta là một cuộc chiến tinh thần… Và cuộc Đại Khủng Hoảng của chúng ta chính là cuộc đời chúng ta.” 

Trên thực tế, nằm sâu bên dưới tất cả những bình yên không súng đạn, dưới những đầy đủ vật chất, dưới những tiện nghi công nghệ, chiến tranh vẫn đang diễn ra. Tâm trí bạn, tâm trí tôi, tâm trí chúng ta vẫn đang nuôi dưỡng vô số những cuộc chiến tranh lớn nhỏ. Chúng ta đang đau khổ vì những cuộc “nội chiến” ấy nhiều hơn bất kỳ cuộc chiến tranh vật lý nào khác.

Và đó là lúc nghệ thuật thực hiện vai trò cao quý của mình. Nghệ thuật sáng tạo, nghệ thuật kết nối, nghệ thuật chữa lành. Nghệ thuật giúp ta tìm lại bản thể của chính mình vốn đã trốn biệt tăm vì quá sợ hãi. Nghệ thuật giúp ta chạm vào người khác, chạm vào chính mình, để hiểu rằng chúng ta chưa từng xa nhau. Và nghệ thuật, bằng một cách kỳ diệu chỉ vũ trụ mới hiểu, chữa lành cho linh hồn chúng ta, hàn gắn những vết thương cho chúng ta, và dâng tặng cho chúng ta những giây phút bình an.